Đăng Nhập
Thủ tục hành chính
Email Kontum
VBPL_CP
bndanhoi
Góp ý web
LƯỢT TRUY CẬP
56.761
NGHIÊN CỨU- TRAO ĐỔI

Kết quả thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng qua 30 năm đổi mới”

                                                                    Ths. Trần Thị Thu Hương – GV khoa XDĐ

Năm 2016 đánh dấu chặng đường 30 năm đối mới và phát triển của đất nước. Việt Nam từ một nước thu nhập thấp đã vươn lên quốc gia có mức thu nhập trung bình, kinh tế phát triển với mức tăng trưởng trung bình hơn 6%/năm, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Trong những thành tựu to lớn đó phải kể đến vai trò không nhỏ của ngành ngoại giao, góp phần đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới, có vị thế ngày càng lớn trên trường quốc tế.

1. Chính sách đối ngoại của Đảng

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện, coi đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta thể hiện quan điểm mới, như cho rằng: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự hình thành thị trường thế giới,…sự lựa chọn duy nhất đúng đắn là “thi đua về kinh tế”; xu thế mở rộng phân công hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, là điều kiện quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng đã chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Sau gần hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tháng 5/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế; đồng thời nêu rõ quyết tâm, chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình. Bộ chính trị xác định, đổi mới về tư duy đối ngoại bao gồm: Đổi mới tư duy cho kịp với sự phát triển nhanh chóng của tình hình thế giới, kết hợp sức mạnh của thời Đại trong điều kiện mới của tình hình thế giới. Nghị quyết 13 đánh dấu sự đổi mới tư duy về công tác đối ngoại. Đây là cơ sở hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam.

Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng (6/1991) tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại. Đại hội khẳng định mạnh mẽ: “Hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ.

Đại hội còn nhấn mạnh: Cần nhạy bén và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế để có những chủ trương đối ngoại phù hợp. Như vậy, đường lối đối ngoại của Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội VII đã có chuyển biến lớn trong nhận thức; chuyển từ đường lối đối ngoại mang đậm tư tưởng ý thức hệ sang đường lối đối ngoại coi trọng lợi ích quốc gia và tư tưởng chính trị thực tế.

Từ Đại hội VII đến Đại hội XI, Đảng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã kế thừa những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XI và có những bổ sung, phát triển mới. Đại hội chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu.

2. Kết quả thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng qua 30 năm đổi mới”

Qua 30 năm đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối ngoại, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia; tạo lập và giữ vững được môi trường hòa bình, tranh thủ yếu tố thuận lợi của môi trường quốc tế để phát triển; độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị; tiếp tục từng bước đưa quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định hơn.

Hiện nay, nước ta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước, quan hệ đối tác toàn diện với 11 nước. Ngày 04/ 8/ 2015 đã ký kết         Hiệp định tự do thương mại với EU, và nước ta trở thành nước thứ 2 trong khu vực sau Singapo ký với EU. Cùng với việc tăng cường ngoại giao nhà nước, đã nâng cao vị thế, uy tín của nước ta tại các diễn đàn đa phương.

Bên cạnh đó, chúng ta đã củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng, giữ vững độc lập độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, Campuchia tiếp tục được củng cố và có những bước phát triển, ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Quan hệ với Trung Quốc có những bước tiến triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và thương mại. Đã phân giới cắm mốc xong trên thực địa toàn tuyến biên giới; phê chuẩn Hiệp định phân định và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ.

Trong bối cảnh tình hình trên biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, có lúc căng thẳng, Việt Nam đã xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh, kiên trì và kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia và lợi ích của đất nước, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình và ổn định, kiên trì chủ trương giải quyết những bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982; kiên trì tôn trọng thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), nỗ lực cùng các nước liên quan xây dụng một Bộ quy tắc ứng xử (COC) có hiệu lực hơn trong việc quản lý tranh chấp và ngăn ngừa xung đột trên Biển Đông. Những chủ trương và giải pháp của Đảng và Nhà nước ta đã được nhân dân đồng tình và dư luận quốc tế ủng hộ.

Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm vào việc liên kết khu vực ở Đông Á, thúc đẩy hình thành cộng đồng kinh tế Đông Á. Đã từng bước bắt nhịp và chủ động tham gia các tiến trình Đông Á. Tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các định chế đa phương quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), WTO, LHQ và các tổ chức thành viên, các diễn đàn đa phương như Tổ chức các nước không liên kết, nhóm các nước G77 (nhóm kinh tế của các nước đang phát triển)… để nâng cao vị thế quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam.

30 năm, Việt Nam đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ đã xác lập vào thực chất. Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Đẩy mạnh và từng bước đưa vào chiều sâu các hoạt động hợp tác về quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục- đào tạo và các lĩnh vực khác, lồng ghép các hoạt động hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng và triển khai chiến lược phát triển các lĩnh vực này.

Ngoài ra, chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học – công nghệ, trình độ quản lý tiến tiến, khai thác hiệu quả các thỏa thuận đã được ký kết, đặc biệt là các khu vực mâu dịch tự do song phương và đa phương. Việc thúc đẩy và nâng cao hiệu quả các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế đã góp phần thiết thực cho việc kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.   Tuy nhiên, công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có mặt chưa thật chủ động và hiệu quả chưa cao. Chưa tạo được nhiều sự đan xen lợi ích kinh tế với các đối tác. Ngoại giao đa phương chưa phát huy hết các lợi thế. Chưa chuẩn bị tốt các điều kiện để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức trong hội nhập. Cơ chế phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế còn bất cập. Thông tin về hội nhập quốc tế chưa được phổ biến rộng rãi đến cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức, doanh nhân chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Sự gắn kết giữa hội nhập kinh tế quốc tế với quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, ngoại giao nhân dân có mặt còn hạn chế.

     Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng những thành tựu đã đạt được cho thấy  tư duy của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại đã từng bước đổi mới đáp ứng yêu cầu trong nước và xu thế quốc tế góp phần rạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 02/08/2017 Lượt xem : 15
Quay Về

Nông thôn mới
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Tạp chí CS
Website liên Kết