Đăng Nhập
VBPL_CP
bndanhoi
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum
LƯỢT TRUY CẬP
56.761
NGHIÊN CỨU- TRAO ĐỔI

Quá trình phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam từ 1945 đến nay.

 Nguyễn Anh Định – Khoa Nhà nước và pháp luật

           Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng hôn nhân và gia đình là những phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Do đó ta thấy trong từng thời kỳ, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình – nền tảng của xã hội mà nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật về hôn nhân gia đình, phù hợp với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng dần được hoàn chỉnh.

Ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời. Theo đó, năm 1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Đây là cơ sở pháp lý để đấu tranh xóa bỏ những hủ tục của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu vẫn còn tồn tại trong xã hội lúc bấy giờ.

1. Sắc lệnh số 97 – SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159 – SL ngày 17/11/1950.

Năm 1950 nhà nước ta đã ban hành hai Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình: Đó là Sắc lệnh số 97 – SL ngày 22/5/1950 về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159 – SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn.

Sắc lệnh số 97 – SL ngày 22/5/1950 gồm 15 điều, trong đó có 8 điều quy định về hôn nhân và gia đình (các điều còn lại quy định về một số nguyên tắc của pháp luật dân sự) như: Xóa bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ có tang (Điều 3); Người phụ nữ sau khi ly dị chồng “có thể lấy chồng khác ngay sau khi có án tuyên ly dị, nếu dẫn chứng rằng mình không có thai hoặc đương có thai” (Điều 4); Thực hiện nam nữ bình đẳng trong gia đình (Điều 5, Điều 6); Cha mẹ không có quyền xin giam cầm con cái khi chúng phạm lỗi (Điều 8); Cho phép con hoang vô thừa nhận được thưa trước tòa để xác định cha hoặc mẹ của mình (Điều 9); Bảo vệ quyền thừa kế của cha mẹ và các con trong gia đình (Điều 11).

Sắc lệnh 159 – SL ngày 17/11/1950 gồm  9 điều chia thành 3 mục đó là: Duyên cớ ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn. Sắc lệnh quy định các trường hợp cho phép vợ hoặc chồng có thể ly hôn và thừa nhận vợ chồng có thể thuận tình  xin ly hôn. Sắc lệnh đã thực hiện rõ nguyên tắc tự do hôn nhân bao gồm cả tự do kết hôn và tự do ly hôn. Sắc lệnh còn quy định đơn giản thủ tục ly hôn “trong trường hợp hai vợ chồng thuận tình xin ly hôn, nếu toà án nhân dân huyện hay thị xã hoà giải không thành, và nếu sau đó một tháng hai vợ chồng vẫn giữ ý kiến xin ly hôn, thì toà án nhân dân huyện hay thị xã sẽ chính thức công nhận sự ly hôn.”và bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ có thai và thai nhi, con chưa thành niên khi ly hônNếu người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin toà hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn” Toà án sẽ căn cứ vào quyền lợi của các con vị thành niên để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng. Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình.” Kể từ khi Sắc lệnh 159 – SL ngày 17/11/1950 được công bố việc xét xử về ly hôn trong phạm vi cả nước đều tuân theo những quy định trong sắc lệnh này.

Sự ra đời của Sắc lệnh số 97 – SL và sắc lệnh số 159 – SL đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu. Nội dung của hai sắc lệnh đã thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của một nền pháp chế mới.

2. Luật Hôn nhân và Gia đình 1959.

Năm 1959, cụ thể ngày 29/12/1959 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình 1959 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 13/1/1960 theo sắc lệnh số 02 – SL.Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 là đạo luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta hay còn gọi là đạo luật số 13 về hôn nhân và gia đình. Luật gồm 6 chương, 35 điều quy định những vấn đề sau:

Về nguyên tắc chung: Luật dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là: nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ một; nguyên tắc nam nữ bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái...

Về kết hôn: Lần đầu tiên ghi nhận, xác định về mặt pháp lý độ tuổi kết hôn là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn. “Việc để tang không ảnh hưởng đến việc kết hôn”, “Đàn bà goá có quyền tái giá”... đây là quy định mới thể hiện tư tưởng tiến bộ, dân chủ xóa bỏ được những tư tưởng phong kiến , lạc hậu trước đây. Đồng thời quy định việc kết hôn phải được đăng ký tại ủy ban hành chính cơ sở...như vậy, không chỉ ghi nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ trong việc kết hôn mà pháp luật còn bảo đảm cho luật đó được thực hiện.

Quy định cụ thể về các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng cũng như quan hệ giữa cha mẹ và con cái, bao gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản. Đặc biệt ghi nhận con trai và con gái đều có quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

Về ly hôn: Dựa trên nguyên tắc tự do hôn nhân trong đó bao gồm cả việc tự do ly hôn mà Luật quy định cả hai bên vợ chồng đều có quyền xin ly hôn. Đồng thời còn quy định trường hợp hạn chế ly hôn như khi người vợ có thai thì chồng không được xin ly hôn, vợ chồng ly hôn vẫn có nghĩa vụ với con chung, việc ly hôn làm phát sinh các nghĩa vụ khác như cấp dưỡng đối với con cái...

Ngoài ra luật còn quy định các trường hợp cấm kết hôn như: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” Điều 5; Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi...” Điều 9.

Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã đặt những nền móng đầu tiên cho sự phát triển của các quan hệ hôn nhân và gia đình nước ta sau này.

3. Luật Hôn nhân và gia đình 1986.

Ngày 25/10/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định thành lập Ban dự thảo Luật hôn nhân và gia đình mới; Dự luật đã được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và được hội đồng nhà nước công bố ngày 3/1/1987.

Kế thừa và phát triển từ luật hôn nhân và gia đình 1959, luật Hôn nhân và gia đình 1986 gồm 10 chương, 57 điều. So với luật hôn nhân và gia đình 1959 luật hôn nhân và gia đình 1986 đã bổ sung thêm một số chế định mới như chế định về xác định cha mẹ cho con, nuôi con nuôi, chế độ đỡ đầu, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, xác định rõ ràng chế định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con thay cho chế định “quan hệ cha mẹ con” được quy định ở luật hôn nhân và gia đình 1959. Việc bổ sung các chế định mới này hết sức phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội nước ta lúc bấy giờ và một vài chế định vẫn còn nguyên giá trị cho tới thời điểm hiện nay.

Ngoài ra luật hôn nhân và gia đình năm 1986 còn có một số điểm mới đáng chú ý như:

-Trong chế định kết hôn:Cấm kết hôn đối với những người khác có họ trong phạm vi ba đời.

-  Chế định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng: Xác định rõ tài sản chung là “tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung”, tài sản riêng là “tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân”.

- Thay thế chế định “quan hệ giữa cha mẹ và con cái” bằng chế định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con.

- Vấn đề xác định cha mẹ cho con và nuôi con nuôi lần đầu tiên được quy định thành một chế định riêng trong luật hôn nhân và gia đình.

-Về ly hôn: Quy định việc chia tài sản do hai bên thoả thuận và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì mới do Toà án nhân dân quyết định.

 Ngoài ra luật còn quy định chế độ đỡ đầu đối với con chưa thành niên trong đó bao gồm cả vấn đề giám hộ và đại diện.

Đặc biệt trong giai đoạn này nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế, do đó kéo theo xã hội có sự xuất hiện ngày càng nhiều các quan hệ hôn nhân và gia đình mới. Cụ thể là quan hệ hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài. Nắm bắt được tình hình thực tiễn này Luật Hôn nhân và gia đình 1986 đã quy định một chế định mới đó là “Quan hệ hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài”.

4. Luật Hôn nhân và gia đình 2000.

Sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 là nền tảng, cơ sở pháp lý của chế độ hôn nhân và gia đình nước ta với các quy định tại Điều 30, 35, 40, 63, 64. Sau quá trình soạn thảo lấy ý kiến đóng góp của toàn dân, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 chính thức thông qua ngày 9/6/2000 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 22/6/2000 (theo Lệnh số 08L/CTN). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, luật quy định rõ về nhiệm vụ,phạm vi điều chỉnh, các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam được thể hiện qua các chế định cụ thể. So với các văn bản Luật hôn nhân và gia đình trước đây(Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986), cấu trúc và nội dung của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có nhiều điểm mới, phù hợp với sự phát triển của điều kiện kinh tế xã hội và thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đìnhlúc này.Luật gồm 13 chương, 110 điều,  trong đó có quy định thêm 3 chương mới so với Luật Hôn nhân và gia đình 1986 là chương “Quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình; Cấp dưỡng; Giám hộ giữa các thành viên trong gia đình”.

Vẫn trên tinh thần của Luật Hôn nhân và gia đình 1986, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có một số điểm đổi mới cơ bản như sau:

- Luật khẳng định đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, về hôn nhân và gia đình. Điều này được cụ thể ở Điều 6 “trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thê hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”.

- Trong quy định những trường hợp cấm kết hôn: Quy định thêm một trường hợp mới đó là cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Bởi vì thực tế xã hội lúc này cho thấy hiện tượng những người đồng tính ở Việt Nam ngày càng nhiều. Tuy nhiên điều này không phù hợp với văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của người Việt nam ta.

- Trong quan hệ giữa vợ chồng: Luật xác định vợ chồng có thể đại diện cho nhau để xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch hoặc khi một bên mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.Về quan hệ tài sản giữa vợ chồng, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định cụ thể phương thức chia tài sản chung của vợ chồng mà chỉ quy định “vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung”. Bên cạnh việc tôn trọng quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng, luật cũng đã dự liệu đến những trường hợp vợ chồng có thể lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung để gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy luật quy định “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.

- Cấp dưỡng được quy định thành một chương riêng biệt, trong đó xác định cụ thể nghĩa vụ cấp dưỡng của từng thành viên trong gia đình khi có đủ điều kiện cấp dưỡng. Cũng như mức cấp dưỡng, thời hạn cấp dưỡng...

- Vấn đề ly hôn: Luật đã xác định ngày càng rõ ràng, hoàn thiện căn cứ ly hôn và trình tự thủ tục giải quyết thủ tục ly hôn.

Thông qua những quy định cụ thể, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tạo ra hành lang pháp lý góp phần thiết lập và bảo đảm sự an toàn cho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên gia đình cũng như các giao dịch giữa các thành viên gia đình với các chủ thể khác trong xã hội; ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

5. Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014, thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10. Luật này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015, bao gồm 9 chương và 133 điều. Tuy nhiên, vẫn trên tinh thần kế thừa và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có một số điểm mới cơ bản như:

- Nâng độ tuổi kết hôn: Nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành đủ 18 tuổi thay vì vừa bước qua tuổi 18 như quy định ở luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Quy định này nhằm tạo nên sự đồng bộ và thống nhất với quy định của các luật khác trong hệ thống pháp luật nước ta như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Tố tụng Dân sự...

- Kkhông cấm kết hôn đồng giới: Thay vì quy định cấm luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ quy định này, mà thay vào đó là quy định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (Khoản 2, Điều 8). Như vậy, những người cùng giới tính vẫn có thể kết hôn với nhau nhưng quan hệ này sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có các tranh chấp xảy ra. Quy định này thể hiện một góc nhìn nhận mới, cởi mở hơn, tiến bộ hơn của các nhà làm luật nước ta đối với những người đồng giới hiện nay.

- Chính thức cho phép mang thai hộ: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chính thức thừa nhận và cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo, trên cơ sở tự nguyện của các bên và có lập thành văn bản, cụ thể được quy định từ Điều 93 tới Điều 100. Như vậy, các cặp vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện như luật định và người được nhờ mang thai hộcũng phải có đủ các điều kiện mà luật này quy định. Việc bổ sung quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mang nhiều ý nghĩa to lớn, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, đáp ứng nhu cầu làm cha mẹ chính đáng của các cặp vợ chồng không thể có con, giúp các cơ quan chức năng có thể kiểm soát được một phần nào đó nhu cầu mang thai hộ hiện nay.

- Ngoài chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 còn quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, được quy định tại các điều 47,48,49,50 và 59.

Bên cạnh đó luật còn bổ sung nhiều quy định khác như: thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn, quy định cụ thể về việc áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình, bổ sung thêm nghĩa vụ đối với con (cấp dưỡng, điều kiện để được nuôi con), xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, công việc nội trợ được coi như lao động có thu nhập...

  Trong đó có một số chế định hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình đã không còn điều chỉnh mà do luật các luật chuyên ngành điều chỉnh như vấn đề con nuôi đã có Luật Nuôi con nuôi năm 2010 điều chỉnh, vấn đề giám hộ đã được Bộ luật Dân sự 2015 điều chỉnh, vấn đề thủ tục ly hôn đã được Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 điều chỉnh. Các vấn đề về hình thức đăng ký kết hôn... đã được luật Hộ tịch Năm 2014 điều chỉnh.

Như vậy, để phù hợp với tình hình phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội và thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đình. Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình. Hệ thống pháp luật hôn nhân và đình dần được hoàn thiện, là công cụ pháp lý của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân lao động.

 

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 20/09/2017 Lượt xem : 53
Quay Về

Tạp chí CS
Nông thôn mới
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Website liên Kết