Đăng Nhập
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum
VBPL_CP
bndanhoi
LƯỢT TRUY CẬP
56.761
NGHIÊN CỨU- TRAO ĐỔI

Quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014

                 Nguyễn Anh Định – Khoa Nhà nước và pháp luật

Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta đã ghi nhận nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.Trên cơ sở này nam nữ được bình đẳng không chỉ trong việc thực hiện quyền kết hôn mà còn bình đẳng trong việc ly hôn theo quy định của pháp luật. Do đó quyền yêu cầu giải quyết ly hôn hay còn gọi là quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền vô cùng quan trọng của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

 Quyền yêu cầu ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo đó, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu ly hôn và quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong một số trường hợp nhất định. Ngoài ra, Luật cũng quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng cũng có quyền yêu cầu ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ. Có thể nhận thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu ly hôn có một số điểm mới so với các Luật trước đó. Do đó việc nghiên cứu về quyền yêu cầu ly hôn là thực sự cần thiết.

v Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng.

 “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn[1]. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình. Ly hôn dựa trên sự tự nguyên của vợ chồng  là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình Đây là quyền chính đáng và bình đẳng giữa vợ và chồng.Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn.

Tuy nhiên nhà nước bảo hộ hôn nhân, bảo vệ quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có nghĩa là giải quyết ly hôn tùy tiện, mà thông qua pháp luật  nhà nước kiểm soát việc ly hôn.

vQuyền yêu cầu ly hôn của cha mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng.

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân luôn gắn với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác. Do vậy, về nguyên tắc, quyền yêu cầu ly hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Lịch sử lập pháp của Việt Nam chỉ ghi nhận quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng. Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cả ba luật về hôn nhân và gia đình (ban hành năm 1959, năm 1986 và năm 2000) đều chỉ quy định quyền yêu cầu ly hôn thuộc về vợ, chồng.

Tuy nhiên trong thực tế tồn tại một số trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bên kia không những không quan tâm, chăm sóc theo đúng nghĩa vụ mà còn hành hạ, ngược đãi hoặc có các hành vi khác đe dọa đến sức khoẻ, tính mạng của họ… Đối với trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích đều có quyền yêu cầu ly hôn. Chỉ những trường hợp người vợ hoặc chồng đó đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn.

 Như vậy, có thể nhận thấy rằng cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết ly hôn khi có đủ ba yếu tố: Một là một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; hai là bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; ba là tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Đây là một trong những quy định mới thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta cũng như phù hợp với thực tế.

 

v Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.

Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật, luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong một số trường hợp.

 Kế thừa và phát triển quy định của các luật Hôn nhân và Gia đình trước đó về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng, luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Theo đó, việc xác định quyền yêu cầu ly hôn của người chồng dựa vào trạng thái có thai, nuôi con và sự kiện sinh con của người vợ.

 Việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn phần nào mong muốn những người đã là vợ chồng phải cân nhắc kỹ lưỡng, phải nghĩ đến lợi ích của đứa con còn nhỏ mà bỏ qua những khúc mắc trong đời sống chung để cùng nhau xây dựng lại hạnh phúc, con cái có cuộc sống vui vẻ, trở thành người có ích cho xã hội. Việc cha mẹ ly hôn ảnh hưởng rất nhiều tới sự phát triển của các con, do thiếu sự quan tâm chăm sóc, thiếu thốn tình thương của cha mẹ con cái trở nên hư hỏng, bụi đời và là điều kiện phát triển cho các tệ nạn xã hội. Do đó, cần thiết phải đặt quyền, lợi ích của trẻ em lên trên hết.

 Đồng thời việc sinh con không đơn thuần là việc riêng của người mẹ mà là việc chung, là trách nhiệm của cả hai vợ chồng. Nhất là khi người phụ nữ mang thai, dẫn đến sự thay đổi tâm sinh lý, vì thế, người chồng càng phải có nghĩa vụ ở bên chăm sóc đới với vợ. Chính vì vậy việc quy định hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng là hợp lý.

 



[1]Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 06/11/2017 Lượt xem : 32
Quay Về

Tạp chí CS
Nông thôn mới
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Website liên Kết