Đăng Nhập
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum
VBPL_CP
bndanhoi
LƯỢT TRUY CẬP
56.761
NGHIÊN CỨU- TRAO ĐỔI

Quy định về thuế bảo vệ môi trường, thực trạng và một số giải pháp

        Trịnh Thu Trang - Khoa Nhà nước và pháp luật 

          Trong những năm gần đây, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển đô thị đã tác động xấu đến môi trường sinh thái. Lượng chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, số lượng chất thải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp nhiều lên một cách đột biến. Mức độ ô nhiễm ngày càng gia tăng cả trên mặt đất, trong lòng đất, nước và trong không khí. 

 Có thể thấy, hiện trạng môi trường xuống cấp đã, đang và sẽ là thách thức to lớn đối với sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Nhận thức được điều này, Chính phủ đã ban hành và thực thi nhiều biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn nhằm giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trường, song song với mục tiêu phát triển kinh tế. Một trong những công cụ quan trọng trong việc bảo vệ môi trường đó là hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong khuôn khổ bài viết này tôi xin chủ yếu phân tích về chính sách thuế bảo vệ môi trường.

    Ở nước ta, luật Thuế bảo vệ môi trường được ban hành không những đảm bảo sự phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới, mà nó còn tạo ra khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định, điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường, khắc phục hạn chế trong các chính sách thu trước đây, tạo nguồn lực tài chính bù đắp chi phí bảo vệ môi trường, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển bền vững.

1. Thực trạng áp dụng thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.

     Ở Việt Nam, khái niệm thuế môi trường được hiểu là "loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hoá khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường[1]"         

     Cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường ở nước ta, đó là Luật thuế Bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010, trong đó quy định đối tượng chịu thuế gồm 8 nhóm: Xăng, dầu, mỡ, nhờn; than đá; dung dịch HCFC; túi ni lông; thuốc diệt cỏ (loại hạn chế sử dụng); thuốc trừ mối (hạn chế sử dụng); thuốc bảo quản lâm sản (hạn chế sử dụng); thuốc khử trùng kho (hạn chế sử dụng).

     Cùng với đó là các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 67/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế bảo vệ môi trường; Thông tư 152/2011/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2011 hướng dẫn nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011; văn bản hợp nhất 29/VBHN-BTC năm 2015 Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế bảo vệ môi trường do Bộ Tài chính ban hành; Thông tư 60/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của chính phủ...

Thuế bảo vệ môi trường được coi là một trong những công cụ kinh tế mang lại hiệu quả cao trong quản lý và bảo vệ môi trường. Thuế bảo vệ môi trường được xây dựng trên nguyên tắc người nào sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm thì phải nộp thuế.

Phí môi trường được tính dựa vào lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường, mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu gây ô nhiễm, tổng doanh thu hoặc tổng sản lượng hàng hóa, lợi nhuận của doanh nghiệp.

Trước đây khi chưa có thuế bảo vệ môi trường, giá bán hàng hóa, dịch vụ chưa bao gồm đầy đủ chi phí xã hội, dễ dàng tạo kẽ hở để các cá nhân và doanh nghiệp trục lợi. Với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải chi trả”, thuế bảo vệ môi trường buộc các chủ thể gây ô nhiễm và các liên đới phải chịu trách nhiệm về chi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ bằng cách đưa chi phí ngoại ứng vào giá. Thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá sản phẩm, hàng hóa, điều này giúp nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường, góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu dùng sản phẩm nhất định.

Ngoài thuế bảo vệ môi trường, tùy vào các mục đích khác nhau mà Nhà nước sẽ kết hợp với các loại thuế khác nhau nhằm đạt được mục đích cao nhất trong mục tiêu bảo vệ môi trường. Ví dụ như, để hạn chế một số hoạt động kinh doanh sản xuất ảnh hưởng lớn đến môi trường, Nhà nước có thể áp thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao nhằm hạn chế việc sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng các loại hàng hóa này. Hoặc Chính phủ thể hiện vai trò điều tiết của mình đối với doanh nghiệp bằng công cụ thuế thu nhập doanh nghiệp, thông qua những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào việc bảo vệ môi trường bằng cách áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện đại nhằm giảm thiểu các chất gây ô nhiễm thải ra môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp về mặt tài chính trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Một công cụ quan trọng khác đánh vào các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản đó là thuế tài nguyên. Các hoạt động như khai thác khoáng sản, kim loại và không kim loại, dầu mỏ, khí đốt, sản phẩm của rừng tự nhiên và các loại tài nguyên thiên nhiên khác đều bị xem xét đánh thuế nhằm hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên. Thuế tài nguyên được thu đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên bao gồm các hoạt động khai thác khoáng sản kim loại và không kim loại, dầu thô, khí đốt, sản phẩm của rừng tự nhiên, hải sản tự nhiên, nước tự nhiên và các loại tài nguyên thiên nhiên khác.

Có thể thấy, thuế và phí là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 95% tổng nguồn thu, trong đó, các khoản thuế và phí liên quan đến bảo vệ môi trường chiếm tỷ trọng không nhiều. Phí có tỷ trọng cao nhất là phí xăng dầu. Thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường giúp giảm đi những hành vi không tốt đối với môi trường, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội.

2. Những tồn tại và bất cập trong chính sách thuế bảo vệ môi trường

Trước hết, các quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên thiên nhiên hoặc điều chỉnh các hoạt động của con người trong quá trình sản xuất, kinh doanh còn những điểm trùng lặp, mâu thuẫn khiến cho quá trình áp dụng pháp luật gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các quy định về bảo vệ môi trường trong các văn bản quy phạm pháp luật còn khá chung chung, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác rất mờ nhạt, khó thực hiện.

Thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường, cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật quốc gia cũng như thực hiện các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế về môi trường chưa được chặt chẽ.

Các văn bản quy định về bảo vệ môi trường liên quan đến từng thành phần môi trường hay điều chỉnh những hoạt động của con người lên môi trường được ban hành chưa đồng bộ, còn chậm cả về mặt thời gian ban hành và nội dung của các quy định.

Đối với các nước trên thế giới, để bảo vệ môi trường chính phủ sẽ áp dụng theo một trong hai cách: Thứ nhất là không can thiệt vào, hoặc thứ hai là đưa tác động bằng các chính sách như: Đánh thuế, trợ cấp hay đưa ra các quy định. Tại Việt Nam, vấn đề đối phó với ô nhiễm môi trường, như chính sách thuế lại là vấn đề mới và vẫn còn nhiều bất cập.

 Hiện nay, Luật thuế Bảo vệ môi trường và Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/7/2011 quy định đối tượng phải chịu thuế môi trường gồm: Xăng, dầu, mỡ nhờn; than đá; dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC); túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng.

Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế Bảo vệ môi trường, ví dụ như khí thải công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ… Có thể thấy, lần đầu tiên Luật Thuế bảo vệ môi trường được áp dụng tại Việt Nam nên những nhà soạn thảo đã lựa chọn những nhóm dễ nhận biết nhất để có biện pháp quản lý rõ ràng, minh bạch. Chính vì vậy, trong danh mục đối tượng chịu thuế còn bỏ ngỏ một số những chất gây độc hại đến môi trường như: các loại hóa chất (gồm cả axit vô cơ, xút, hóa chất bảo vệ thực vật, dung môi hữu cơ, thủy ngân,...); đồ điện tử (phát sinh chất thải điện tử); cao su (săm, lốp,..); polime,...

Việc đánh thuế ô nhiễm tại nước ta vẫn chưa bao phủ được các đối tượng gây ô nhiễm, mức thuế áp đặt chưa được nghiên cứu theo hướng hiệu quả đề xuất trong khi vẫn còn tình trạng áp thuế theo áp lực ngân sách.

Việt Nam cũng có nhiều quy định trong hạn chế ô nhiễm nhưng nhiều quy định còn mang nặng tính hành chính, trong khi các quy định mang tính kỹ thuật chưa nhiều hoặc các chuẩn của nước ta còn thấp hơn so với các nước. Ngoài ra, các bộ ngành cũng chưa hỗ trợ trong nghiên cứu và triển khai các chính sách hạn chế ô nhiễm trong lĩnh vực chuyên ngành.

Có ý kiến cho rằng "Thuế bảo vệ môi trường: Thu 4 đồng, chi 1 đồng"[2], trong khi mức trần thu thuế bảo vệ môi trường đang được đề xuất tăng mạnh, tỷ lệ chi thực tế cho mục đích này ngày càng giảm trong 5 năm qua. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, về tình hình thực hiện Luật thuế bảo vệ môi trường 5 năm qua, trong khi khoản thu từ nguồn thuế này tăng 4 lần thì chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường tăng chưa tới 1,4 lần.

Điển hình nhất là mới đây Đề xuất của Bộ Tài chính nâng khung thuế đối với xăng dầu lên mức tối đa 8.000 đồng/lít trong Luật Thuế bảo vệ môi trường sửa đổi. Điều này được giải thích là nhằm đảm bảo tính ổn định của chính sách, phù hợp với lộ trình thay thế thuế nhập khẩu phải cắt giảm dần theo cam kết quốc tế. Đông thời phù hợp với mức thu của các nước xung quanh, tránh nạn buôn lậu xăng dầu.

 Tuy nhiên việc áp mức thuế này sẽ khiến giá xăng dầu ở Việt Nam trở thành mức khá cao so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trong khi thu nhập bình quân của người dân ở nước ta vẫn còn khá thấp, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người dân, doanh nghiệp. Ông Nguyễn Minh Đức Ban pháp chế (VCCI) đã đưa ra quan điểm "không thể lấy cớ bù hụt thu ngân sách bằng cách nâng khung thuế với xăng, dầu"[3].

Vì thế đề xuất này đã gặp rất nhiều ý kiến trái chiều của cả người dân và các chuyên gia về lĩnh vực kinh tế.

Một bất cập của Luật Thuế Bảo vệ môi trường chính là mức thuế bảo vệ môi trường. Luật hiện hành xác định tính thuế bảo vệ môi trường theo mức thuế tuyệt đối để đơn giản, minh bạch trong thực hiện, ổn định số thu cho ngân sách. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một loại hàng hóa là tương đối lớn, dẫn tới khả năng việc áp dụng sẽ không thống nhất đối với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng nhưng tại các địa phương khác nhau. Điều đó dẫn đến một số trường hợp đối tượng đáng lí phải chịu thuế lại không bị đánh thuế, trong khi thực chất đối tượng không chịu thế lại bị đánh thuế khá nặng bởi tỉ lệ phân biệt giữa chúng là khá nhỏ. Vì vậy, mặc dù đã có những quy định hướng dẫn về vấn đề biểu thuế này nhưng dường như nó chưa giải quyết được những vấn đề còn vướng mắc, và ngay cả những người trực tiếp áp dụng hay giám sát việc áp dụng của loại thuế này cũng không tránh khỏi lúng túng.

Hơn thế nữa, pháp luật vẫn chưa có đủ các văn bản quy phạm để huy động sự tham gia, đóng góp của mọi tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ môi trường, Nhà nước vẫn chưa có biện pháp xử lý thích hợp đối với người có hành vi vi phạm gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Vì lẽ đó mà hiện nay việc bảo vệ môi trường dường như chỉ là việc của các cơ quan quản lý chứ chưa thực sự trở thành “sự nghiệp của toàn dân” như các văn bản của Đảng,

 

    3. Một số giải pháp

    Thứ nhất, hiệu quả của một chính sách luôn được đảm bảo bởi niềm tin của người dân đối với chính sách đó. Chính vì vậy, Nhà nước cần dung hòa giữa mục tiêu tăng nguồn thu và bảo vệ môi trường trong chính sách thuế. Ví dụ như tăng phí xăng dầu, đồng thời phải giảm thuế giá trị gia tăng hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp người dân chấp nhân rằng việc tăng thuế bảo vệ môi trường là hợp lý. Hơn nữa, chính sách thuế bảo vệ môi trường cần minh bạch, rõ ràng, nguồn thuế thu được phải được dùng vào những hoạt động thiết thực trong công tác bảo vệ môi trường một cách hiệu quả.

Tăng cường rà soát, bổ sung các quy định cụ thể trong việc tính thuế, phí; các mặt hàng phải chịu thuế, phí; đối tượng nộp thuế và được hoàn thuế nhằm hoàn thiện Luật thuế bảo vệ môi trường. Rà soát, điều chỉnh các chính sách hiện hành có liên quan đến BVMT để xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ về BVMT; phải có sự đồng bộ giữa thuế, phí BVMT với các chế tài kiểm soát về giá, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục ô nhiễm...

    Thứ hai, hoàn thiện quy định về đối tượng chịu thuế. Trên thực tế, có nhiều hàng hóa mà khi sử dụng gây ô nhiễm với các mức độ tác động khác nhau đến môi trường. Vì vậy, để đảm bảo tính công bằng và minh bạch cần xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận để xác định chính xác mức độ gây ô nhiễm của từng loại hàng hóa, từng loại hình cơ sở sản xuất, từ đó đưa ra mức thuế, phí để khắc phục thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện tại, chưa nên đưa tất cả các hàng hóa gây ô nhiễm vào diện chịu thuế mà chỉ nên chọn lựa một số hàng hóa cụ thể. Điều này cũng là phù hợp với xu thế chung của thế giới. Ví dụ như các nước ở châu Âu chỉ thu thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu diesel, than, điện; Mỹ thu thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu diesel, nhiên liệu,...

    Thứ ba, bổ sung các quy định cụ thể về thưởng, phạt môi trường; Xử lý nghiêm đối với các vấn đề về bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nhằm tạo sức răn đe và hạn chế tối đa những trường hợp xảy ra các vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như vụ xả thải của Vedan hay Formosa.

     Thứ tư, cần phải tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động để có thể triển khai một số giải pháp công cụ kinh tế mà các nước phát triển đang áp dụng như phí sử dụng môi trường, phí ô nhiễm không khí, bán hạn ngạch ô nhiễm nhằm tạo nguồn thu ngân sách, hạn chế và kiểm soát ô nhiễm.

     Tóm lại, việc bảo vệ môi trường là một vấn đề cấp thiết hết sức quan trọng đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Bởi môi trường không chỉ là yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của mỗi người dân trong trong một quốc gia, mà còn là nơi chưa đựng và cung cấp tài nguyên cho đời sống, sản xuất, là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin của con người. Sử dụng công cụ thuế, phí bảo vệ môi trường là một trong các giải pháp hiệu quả nhằm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường, thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc sử dụng công cụ thuế để điều tiết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng các sản phẩm có tác động xấu đến môi trường, hạn chế các hành vi gây ô nhiễm môi trường, khuyến khích các doanh nghiệp, người tiêu dùng và toàn thể cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tự nhiên, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Tuy nhiên, do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả về mặt môi trường chưa cao. Do vậy, trong thời gian tới, khi mà tiến trình hội nhập thế giới đã rất gần, Việt Nam cần phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống chính sách về công cụ kinh tế bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho thế hệ mai sau.



[1] Khoản 1 Điều 2 Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010

 

[2] Theo Vnexpress "Thuế bảo vệ môi trường: Thu 4 đồng, chi 1 đồng"

 

[3] Theo Vnexpress "Thuế bảo vệ môi trường: Thu 4 đồng, chi 1 đồng"

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 06/11/2017 Lượt xem : 31
Quay Về

Nông thôn mới
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Tạp chí CS
Website liên Kết