Đăng Nhập
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum
VBPL_CP
bndanhoi
LƯỢT TRUY CẬP
56.761
NGHIÊN CỨU- TRAO ĐỔI

Vai trò của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

              Ngô Thị Thuý Mai- Khoa Xây dựng Đảng

 Sự chi viện thường xuyên của hậu phương cho tiền tuyến là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của chiến tranh. Hậu phương chính là nơi xây dựng, dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, khoa học, kĩ thuật; là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến. Hậu phương mạnh thì tiền tuyến mạnh. Xây dựng hậu phương trở thành vấn đề có tính chất chiến lược, quyết định sống còn đối với thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến.

 Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), Đảng ta khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa…”. Vai trò đó của miền Bắc xã hội chủ nghĩa được thể hiện:

Thứ nhất, miền Bắc xã hội chủ nghĩa là cội nguồn để phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị, tư tưởng là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt toàn bộ quá trình cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn xây dựng được hậu phương vững mạnh, vấn đề đầu tiên là phải xây dựng lực lượng chính trị, lấy xây dựng lực lượng chính trị là then chốt; chỗ dựa vững chắc nhất của cách mạng là lòng yêu nước, lòng trung thành vô hạn của quần chúng nhân dân với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, với đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, tự lực, tự cường, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo phát triển tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất. Đi đôi với xây dựng Đảng là vấn đề không ngừng củng cố, tăng cường và hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp, làm cho hệ thống chính quyền các cấp thực sự có đủ trình độ và năng lực điều hành, tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng hậu phương chiến lược, động viên sức mạnh cho chiến trường. Trong giai đoạn 1954 - 1975, miền Bắc đã tăng cường công tác xây dựng Đảng, hoàn thiện bộ máy chính quyền các cấp, ban hành Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, củng cố Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các đoàn thể quần chúng với nhiều phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăng cường quốc phòng, như phong trào “Gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba nhất”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Dù chiến tranh ác liệt, cơ sở vật chất bị tàn phá, nhưng với khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, với khí thế “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, luôn sẵn sàng với tinh thần “Xe chưa qua nhà không tiếc”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tiếng hát át tiếng bom”,… quân dân miền Bắc luôn hướng ra tiền tuyến vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, đánh nhanh thắng lớn trên chiến trường, nhất là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Thứ hai, miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của cho tiến tuyến lớn miền Nam

Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (tháng 7/1954), Trung ương Đảng đã sớm xác định nhiệm vụ xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) của Đảng khẳng định: “...Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”.

Để củng cố miền Bắc, trước hết cần phải hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hàn khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh. Đến năm 1960, sau ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958 - 1960), kinh tế miền Bắc có bước phát triển mới. Từ năm 1961 đến năm 1965, miền Bắc đã ra sức thi đua thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với hàng loạt phong trào thi đua lao động sản xuất sôi nổi. Đến đầu năm 1965, do Mỹ gây chiến tranh phá hoại, kế hoạch 5 năm phải tạm dừng, song cơ bản miền Bắc đã đạt được các mục tiêu đề ra trong nông, công nghiệp, giao thông vận tải, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tiềm lực quốc phòng, chi viện cho miền Nam. Năm 1959, miền Bắc mới chỉ chi viện cho miền Nam 542 người thì đến cuối năm 1964, một số đơn vị đại đội, tiểu đoàn với trên 40.000 cán bộ, chiến sĩ cùng 3.000 tấn vũ khí đã được tăng cường đến các chiến trường.

Từ năm 1965 đến năm 1975, miền Bắc thực hiện nhiệm vụ vừa sản xuất, xây dựng vừa chiến đấu bảo vệ, đồng thời vừa làm tốt nhiệm vụ hậu phương với miền Nam và các chiến trường quốc tế Lào, Campuchia.

Về nhân lực: Miền Bắc đã động viên 2 triệu thanh niên tham gia lực lượng vũ trang. Nhu cầu về nhân lực của nhiều ngành trực tiếp phục vụ chiến tranh cũng tăng lên rất lớn. Riêng ngành Giao thông vận tải, vào năm địch đánh phá ác liệt nhất (năm 1968) đã có trong biên chế chính thức 120.000 người, chưa kể hàng chục vạn thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước được huy động trên các tuyến đường; động viên tới 267 triệu ngày công theo chế độ dân công thời chiến để đảm bảo giao thông hoặc phục vụ các yêu cầu khác của quân đội (làm trận địa, sửa chữa sân bay, vận chuyển hàng bằng phương tiện thô sơ...). Tính đến năm 1972, tổng số lao động do Nhà nước động viên đã lên tới 2,5 triệu người, chiếm 11% dân số miền Bắc. Đến cuối năm 1972, Nhân lực động viên tới trên 2 triệu người, chiếm khoảng 30% lao động xã hội miền Bắc, trong đó 70% là nam giới. Riêng số động viên cho quân đội là 1,5 triệu người. Tỉ lệ tuyển quân ở xã cao nhất là trên 10% dân số; 70% số hộ gia đình ở miền Bắc có người thân chiến đấu trên các chiến trường. Trên đồng ruộng, phụ nữ chiếm 63% trong số lao động sản xuất trực tiếp. Hai năm 1973-1974, miền Bắc tiếp tục động viên 25 vạn thanh niên vào lực lượng vũ trang, bổ sung cho chiến trường 15 vạn quân; chuyển hàng vạn thương binh, bệnh binh từ các chiến trường về điều trị và giải quyết nhanh chính sách. Chỉ trong 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 4-1975), miền Bắc đã bổ sung vào chiến trường trên 110.000 cán bộ, chiến sĩ, cử hàng vạn cán bộ dân chính đảng đến các vùng mới giải phóng để tăng cường cho Đảng bộ và chính quyền cách mạng.

Cùng với chi viện sức người, sức của, cổ vũ sức mạnh tinh thần cho chiến trường miền Nam, hậu phương miền Bắc còn tiếp nhận hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ, con em miền Nam tập kết ra miền Bắc học tập và công tác; đón tiếp gần 31 vạn thương binh và hơn 35 vạn lượt người từ tiền tuyến ra hậu phương chữa bệnh, học tập, phục hồi sức khỏe trở lại chiến trường.

Về vật lực: Miền Bắc đã chi viện miền Nam 614.051 súng bộ binh, 35.599 súng B40, B41; 1.785 khẩu ĐKZ, 8.494 cối, 559 khẩu pháo hỏa tiễn, 75 pháo 122 ly và 130 ly, 2.086 súng máy cao xạ, 195 pháo cao xạ 37 ly, 113 xe tăng, 50 xe bọc thép, 6.600 máy vô tuyến điện, 12.565 máy hữu tuyến điện, 1.002 ô-tô vận tải kéo pháo, 93 xe xích kéo pháo... Phần lớn vũ khí, đạn, trang thiết bị quân sự, thuốc và dụng cụ y tế,.. đáp ứng cho nhu cầu các chiến trường ở miền Nam với khối lượng không ngừng tăng lên, trong đóvới khoảng 81% vũ khí đạn dược, 60% tổng lượng xăng dầu, hơn 85% xe vận tải, 65% thuốc và dụng cụ y tế đáp ứng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã được huy động từ miền Bắc. Điều đó đã khẳng định vai trò quyết định của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ba là, Miền Bắc xã hội chủ nghĩa luôn là chiếc cầu nối giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới để làm nên đại thắng Mùa Xuân 1975

Cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam đã trở thành tuyến đầu của phe xã hội chủ nghĩa , của phong trào giải phóng dân tộc, chúng ta nhận được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ và viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa  anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc cả về vật chất và tinh thần. Hậu phương miền Bắc là nơi tiếp nhận sự viện trợ đó của quốc tế.

Miền Bắc trở thành cầu nối đặc biệt quan trọng nhằm tăng cường quan hệ quốc tế đoàn kết với nhân dân thế giới, với các tổ chức dân chủ, hòa bình quốc tế, đặc biệt là với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa anh em.

Trong 10 năm từ năm 1954 đến năm 1964, nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ 119.790 tấn lương thực thực phẩm, thuốc men, vũ khí, đạn dược, trang thiết bị (gồm 415.584 súng bộ binh, 1.023 pháo mặt đất, 1.024 pháo cao xạ, 32 máy bay, 46 tầu chiến, 165 xe tăng, 166 xe bọc thép, 552 xe xích kéo pháo, 4.760 xe vận tải…). Từ năm 1965 đến năm 1972, về số lượng viện trợ tăng trung bình 5 đến 10 lần, có loại từ 12 đến 22 lần như súng máy cao xạ, máy bay, cầu phao công binh,… Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho nước ta tổng cộng khoảng 2.362.000 tấn vật chất, trị giá lên tới 7 tỷ rúp. Vơi sự viện trợ to lớn này, tiềm lực mọi mặt, nhất là sức mạnh quốc phòng của miền Bắc từng bước được tăng cường, đủ sức bảo vệ miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong 16 năm (từ 1959 đến 1975), tuyến giao thông vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn đã vận chuyển 1.349.060 tấn, giao cho các chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia  583.450 tấn (43,2%), bảo đảm hành quân cơ động, tiêu thụ trên tuyến, tổn thất 765.610 tấn (56,8%),...

Thắng lợi của đại thắng Mùa Xuân 1975 không chỉ là thắng lợi của quá trình phát triển chiến tranh cách mạng của dân tộc mà còn là biểu hiện của sức mạnh đoàn kết chiến đấu giữa quân dân ba nước Đông Dương, với sự giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa và những lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Trong đó, miền Bắc xã hội chủ nghĩa luôn xứng đáng với vai trò là chiếc cầu nối giữa cách mạng nước ta với cách mạng thế giới. 

          Đánh giá vai trò của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) khẳng định: Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa  suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội.

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 06/11/2017 Lượt xem : 42
Quay Về

Tạp chí CS
Nông thôn mới
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Website liên Kết