Đăng Nhập
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum
VBPL_CP
bndanhoi
LƯỢT TRUY CẬP
56.761
NGHIÊN CỨU- TRAO ĐỔI

Nhận diện một số rào cản đối với phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam và giải pháp khắc phục

                              Phan Văn Sinh      -      Khoa Xây dựng đảng

 

  

Thực hiện đường lối đổi mới, nước ta phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế và có vị trí, vai trò quan trọng. Nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX "Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân", theo đó, kinh tế tư nhân đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ chỗ chủ yếu chỉ có các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ Việt Nam đã có những doanh nghiệp tư nhân theo đúng nghĩa, đó là, một số doanh nghiệp đã trở thành tập đoàn kinh tế lớn. Đến nay, kinh tế tư nhân đã hoạt động rộng khắp ở mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, trong số đó có những ngành công nghệ tiên tiến, tạo ra năng suất lao động cao. Có thể thấy, thành phần kinh tế tư nhân đang góp phần tích cực giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản của đất nước. Xã hội đã có những nhìn nhận đúng hơn vai trò của kinh tế tư nhân, tôn vinh những doanh nhân trên thương trường.

          Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn đang phải đối mặt khó khăn, thách thức khiến cho khu vực này chưa phát huy hết tiềm năng của mình. Để phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa XII về “phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế”, chúng ta cần phân tích rõ hơn về những rào cản đối với sự phát triển của thành phần kinh tế này, đó là:

Trước hết, rào cản có liên quan đến khuôn khổ pháp luật cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Việt Nam đã sữa đổi Hiến pháp, ban hành nhiều đạo luật từ các bộ luật dân sự, đến các luật thương mại, ngân hàng, đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp… Nhưng đến nay, hệ thống thể chế và pháp luật Việt Nam theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế vẫn chưa hoàn thiện và chưa đầy đủ. Trong những năm qua, số lượng văn bản pháp luật tăng nhanh trong khi chất lượng của nhiều văn bản chưa đảm bảo; bản thân Nhà nước ta vẫn thiếu một cơ quan đầu mối, các công cụ, tiêu chí kiểm soát chất lượng văn bản pháp luật. Trong khi đó, cơ quan Nhà nước vẫn thường áp dụng biện pháp ban hành quy định hoặc biện pháp hành chính để xử lý phát sinh mà chưa chú trọng tới các giải pháp thị trường nên luật khó đi vào cuộc sống.

Thứ hai, rào cản liên quan đến môi trường đầu tư và kinh doanh. Vấn đề này liên quan đến việc gia nhập thị trường, quyền tự do, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp chưa thực sự đảm bảo sự cạnh tranh công bằng lành mạnh; việc gia nhập, hoạt động và rút khỏi thị trường còn nhiều rào cản. Mặc dù đang có nhiều cải thiện trong những năm gần đây nhưng môi trường kinh doanh Việt Nam vẫn chưa đạt trung bình ASEAN 4 về điểm số và thứ hạng. Mặt khác, doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, kể cả doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn thường gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin, nguồn lực vốn đầu tư, đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, rào cản liên quan đến các chi phí không chính thức. Việc phải trả các khoản chi phí không chính thức là một gánh nặng lớn mà doanh nghiệp ngoài nhà nước phải đối mặt ở Việt Nam. Giá trị của các khoản chi phí không chính thức so với doanh thu của các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng tương đối lớn. Dễ thấy, bên cạnh gánh nặng về các loại thuế, phí, thời gian tuân thủ các quy định pháp luật, doanh nghiệp đang “bị ám” bởi loại phí không chính thức. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2016 cho thấy, có tới 66% trong tổng số 11.000 doanh nghiệp được hỏi phải “móc hầu bao” cho chi phí không chính thức. Đáng lo ngại hơn, khoản chi phí này không mấy cải thiện qua các năm. VCCI cho biết, có 9 - 11% doanh nghiệp tham gia điều tra từ năm 2014 - 2016 cho biết các khoản chi phí không chính thức chiếm hơn 10% tổng doanh thu của họ, cao hơn hẳn mức 6 - 8% giai đoạn 5 năm trước. Các doanh nghiệp thường phải chi khi làm thủ tục cấp mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp đón thanh tra, kiểm tra, thủ tục cấp giấy phép kinh doanh có điều kiện[1]

Thứ tư, rào cản có liên quan đến sự bất bình đẳng trong cơ chế chính sách đối với khu vực của kinh tế tư nhân trong tương quan so sánh với khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực FDI. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn được hưởng nhiều những ưu ái từ Nhà nước. Những ưu ái này tạo ra những méo mó thị trường, hậu quả là nguồn lực chưa được bố trí vào nơi sử dụng hiệu quả nhất. Doanh nghiệp nhà nước, ngoài ưu thế được cấp vốn từ ngân sách nhà nước, vẫn được tạo điều kiện thuận lợi hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp nhận các nguồn vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Doanh nghiệp nhà nước ở các lĩnh vực độc quyền nhà nước như điện, nước, xăng dầu, dịch vụ công ích thiết yếu, cơ chế định giá chưa theo cơ chế thị trường và tính minh bạch trong cơ chế giá còn thấp, tạo ra sự bất bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân muốn tham gia vào thị trường này. Các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam cũng được hưởng rất nhiều ưu đãi về chính sách thu hút đầu tư, thị trường, lao động, thuế. Trong khi đó, khu  vực kinh tế tư nhân trong nước lại chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp nước ngoài trong bối cảnh hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ. Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn vẫn hoạt động ở thị trường nội địa, năng lực cạnh tranh yếu, chưa tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ năm, năng lực cạnh tranh, trình độ chuyên môn và văn hóa kinh doanh của thành phần kinh tế tư nhân còn hạn chế. Trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân trong nước cũng bộc lộ nhiều hạn chế, đó là các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, nguồn lực tài chính, trình độ trang bị kỹ thuật và năng lực cạnh tranh thấp kém; nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ tiểu chủ, cá thể thực hiện kinh doanh theo phương thức ngắn hạn, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh trong dài hạn; ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước còn hạn chế. Các doanh nghiệp tư nhân chưa có được một đội ngũ doanh nhân lớn mạnh; thiếu kinh nghiệm thương trường quốc tế và chưa được đào tạo cơ bản về quản lý sản xuất kinh doanh. Đồng thời, một bộ phận doanh nhân còn hạn chế về kiến thức, sự am hiểu pháp luật và năng lực kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, khả năng cạnh tranh và hội nhập. Một số doanh nhân còn thiếu văn hóa kinh doanh và trách nhiệm với xã hội, lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, làm tăng thêm các tiêu cực xã hội.

Đkinh tế tư nhân tiếp tục phát triển và trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế nước ta theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa XII, trong thời gian tới chúng ta cần có những chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các mặt từ chủ trương quan điểm, đến thực hiện cải cách và vận hành một cách có hiệu quả thể chế kinh tế trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của thị trường, kiên quyết xóa bỏ những rào cản và can thiệp phi kinh tế đối với nền kinh tế, từ đó xây dựng một thể chế kinh tế khách quan, tạo được động lực phát triển dân chủ, bình đẳng. Vì vậy, cần tập trung thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển. Cần phân định rõ vai trò của Nhà nước và thị trường cũng như làm rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong nề kinh tế. Vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế xã hội không phải là sự tranh chấp với thị trường, mà là kiến tạo thị trường qua việc xây dựng hạ tầng kinh tế, kỹ thuật “cứng” và hạ tầng kinh tế, kỹ thuật “mềm” cho nền kinh tế, làm cho thị trường hoạt động tốt hơn. Thước đo tốt nhất để đánh giá vai trò của Nhà nước là mức độ lành mạnh của thị trường.

Hai là, phân định rõ hơn chức năng, vai trò của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định, kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”[2]; nếu xét về số lượng doanh nghiệp, giải quyết việc làm, giá trị tài sản cố định, doanh thu và nguồn vốn, đến nay kinh tế tư nhân đã là khu vực lớn nhất của nền kinh tế. Mục tiêu đặt ra là tạo điều kiện, dỡ bỏ các rào cản, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, thực sự đóng vai trò là một động lực quan trọng, tiến tới trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế nước ta.

Cần nhấn mạnh và làm rõ việc xác định: “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”[3] không hàm ý sự phân biệt đối xử: “vai trò chủ đạo” so với “động lực quan trọng”, mà với ý nghĩa tùy thuộc vào chức năng của mỗi khu vực kinh tế để xác định vị trí, chỗ đứng của chúng. Cần thực hiện nguyên tắc, những gì tư nhân có thể làm tốt thì để cho khu vực tư nhân làm; tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển trong tất cả các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trên thị trường - những nơi khu vực kinh tế nhà nước không nên tham gia hoặc tham gia rất hạn chế vì không thuộc chức năng của mình. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng ta là khuyến khích phát triển không hạn chế quy mô trong những ngành, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm.

Ba là, hoàn thiện thể chế phân bổ nguồn lực để các nguồn lực được huy động  và sử dụng có hiệu quả cao, nhất là các nguồn lực của Nhà nước. Cần có những giải pháp đột phá để chấm dứt cơ chế “xin cho” trong phân bổ nguồn lực nhà nước; quản lý ngân sách nhà nước một cách chặt chẽ, minh bạch từ Trung ương tới địa phương và giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước; tăng cường trách nhiệm của người đề xuất, phê duyệt, và người quản lý, thực hiện dự án, công khai minh bạch trong quá trình đấu thầu, tránh việc lợi dụng các quan hệ thân hữu để đạt được gói thầu, vay vốn nhà nước; đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong khoa học, thực hiện cải cách hệ thống và nội dung giáo dục một cách cơ bản theo hướng gắn với thực tiễn; hoàn thiện các yếu tố sản xuất.

Bốn là, thiết lập nền quản trị quốc gia tốt, thực hiện chính phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ phát triển. Xây dựng hệ thống dịch vụ công hiệu quả; cải cách mô hình cung ứng dịch vụ công theo hướng tăng cường sự tham gia khu vực tư nhân và cộng đồng. Hoàn thiện hệ thống giải quyết tranh chấp, xét xử, bảo vệ quền sở hữu tài sản, tạo điều kiện cho tiến hành các thủ tục phá sản doanh nghiệp theo tinh thần thượng tôn pháp luật; bảo đảm nguyên tắc tòa án độc lập có hiệu lực trên thực tế, bảo vệ công lý.

          Xây dựng bộ máy hành chính có trách nhiệm giải trình đối với công chúng, giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề lợi ích nhóm đối với chính sách. Áp dụng mạnh mẽ chính phủ điện tử ở mọi lĩnh vực để giảm thiểu và hiện đại hóa thủ tục hành chính, hạn chế tham nhũng, tăng cường tính minh bạch và tiếp nhận được sự phản hồi của nhân dân. Thiết lập các cơ chế đối thoại liên tục nhằm giám sát nền hành chính công, dỡ bỏ những rào cản, bất cập trong quá trình thực thi chính sách; đảm bảo nguyên tắc hoạt động độc lập của kiểm toán, thanh tra, xử lý nạn tham nhũng, quan liêu một cách quyết liệt, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển.

 



[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.103.

[3] Đảng Cộng sản Việt NamVăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.103.

Đăng bởi : Administrator Account Ngày đăng : 16/11/2017 Lượt xem : 39
Quay Về

Nông thôn mới
VBPL_KonTum
HoChiMinh
Tạp chí CS
Website liên Kết