Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Đại thắng mùa xuân năm 1975 nét phát triển sáng tạo và độc đáo của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, đã viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng Quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(1) .

 Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 được mở đầu ở Buôn Ma Thuột và kết thúc ở Sài Gòn, diễn ra với nhịp độ thần tốc. Chỉ trong vòng 55 ngày đêm, với sức mạnh tổng hợp, quân và dân ta đã đánh tan hơn một triệu quân ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền, chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng qua năm đời tổng thống hoàn toàn sụp đổ. Đại thắng mùa Xuân 1975 và cội nguồn sâu xa của kế sách giữ nước, đã chứng minh rằng: trí tuệ và tài thao lược kiệt xuất của nhân dân ta, mà nét tiêu biểu là nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, một trong những nhân tố quyết định của thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn Xuân 1975.  

Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết vào năm 1973, đây là một thắng lợi rất to lớn của nhân dân ta, xác nhận thất bại quân sự đầu tiên của Mỹ trong thế kỷ XX. Mỹ buộc phải rút quân về nước, nhưng Mỹ vẫn ngoan cố mưu toan duy trì chế độ thực dân mới đã cùng ngụy quyền phá hoại việc thi hành Hiệp định nhằm thực hiện dã tâm giữ cho được chế độ thực dân mới ở miền Nam bằng công thức: đô la, vũ khí, trang bị của Mỹ cùng với bộ máy ngụy quyền, ngụy quân dưới sự chỉ đạo của Mỹ. Để thực hiện âm mưu và chủ trương trên, khi rút quân Mỹ đã để lại hàng nghìn cố vấn quân sự trá hình, chuyển giao toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện cơ sở chiến tranh cho nguỵ quyền Sài Gòn.  Đánh giá đúng âm mưu của Mỹ, Hội nghị lần thứ 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 7/1973 nhận định: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng bằng con đường bạo lực, do đó, phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, tiến lên giành toàn thắng. Sau khi có nghị quyết Trung ương, lãnh đạo và chỉ huy các cấp đã động viên các lực lượng trên cả nước thực hiện tinh thần kiên quyết, triệt để, sáng tạo để đưa cách mạng miền Nam tiến lên với một nhịp độ nhanh hơn, vững chắc hơn. Kế hoạch tác chiến, chiến lược giải phóng miền Nam trải qua 8 lần điều chỉnh bổ sung, thông qua Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương. Lần thông qua cuối cùng, từ ngày 18/12/1974 đến ngày 08/01/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và hạ quyết tâm chiến lược lịch sử: giải phóng miền Nam trong 2 năm (1975-1976) và nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bên cạnh kế hoạch tác chiến chiến lược cơ bản, ta còn có phương án tác chiến chiến lược tranh thủ thời cơ chuyển sang tổng tiến công sớm hơn vào đầu hay cuối năm 1975. Như vậy, từ ý định và kế hoạch tác chiến, chiến lược ban đầu đến khi thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là cả một quá trình đầy sáng tạo của Đảng ta. Đó là quyết tâm tác chiến, chiến lược kịp thời và chính xác, là kế hoạch tác chiến, chiến lược đúng đắn và ngày càng hoàn chỉnh đặc sắc trong quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và các cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng, nhất là Bộ Tổng tham mưu. Trong bố trí chiến lược, địch và ta đều mạnh ở cả hai đầu chiến tuyến, vì Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn là hai vị trí then chốt quyết định. Ta đã nghi binh điều địch ra hai hướng đó, bí mật bất ngờ mở đòn tiến công chiến lược đầu tiên ở miền Trung -Tây Nguyên, nơi địch yếu nhất, sơ hở nhất và cũng là nơi có tính chất hiểm yếu nhất. Đánh vào Tây Nguyên ta có khả năng chắc thắng, vì địch khó có thể cơ động lực lượng ở hai đầu đến ứng cứu. Sau khi thắng lợi ta có thể phát triển xuống đồng bằng ven biển cắt đôi chiến tuyến, làm đảo lộn thế trận chiến lược của địch. Chiến dịch Tây nguyên, chiến dịch mở đầu mang ý nghĩa đột phá chiến lược đầu tiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975; tiêu diệt 7 vạn quân địch, xoá sổ Quân đoàn 2- Quân khu 2, tiêu diệt và làm tan rã một tập đoàn phòng ngự lớn, giải phóng một địa bàn chiến lược quan trọng. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên khẳng định thế và lực của ta hơn hẳn địch, khẳng định sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam ở thời kỳ cuối cuộc chiến tranh. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, trước hết là thắng lợi đầy sáng tạo, phát triển cao của nghệ thuật tác chiến chiến lược và nghệ thuật chiến dịch tiến công, trong đó: nghệ thuật chọn hướng tiến công và mục tiêu tiến công chủ yếu rất đúng và rất hiểm; nghệ thuật nghi binh, lừa địch tạo thế, giữ quyền chủ động; nghệ thuật tạo ưu thế hơn hẳn địch trên hướng và mục tiêu chủ yếu; nghệ thuật vận dụng cách đánh, điều hành và tổ chức trận then chốt rất sáng tạo là những nét đặc sắc tiêu biểu. Sau thắng lợi Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã kịp thời chỉ đạo mặt trận Trị - Thiên, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 chớp thời cơ mới, thế chiến lược mới nhanh chóng chuyển hướng tiến công. Với thắng lợi của chiến dịch Huế -Đà Nẵng thể hiện nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và tận dụng thời cơ, chủ trương nhạy bén, táo bạo, mau lẹ, kịp thời của chỉ đạo, chỉ huy ở cả cấp chiến lược và cấp chiến dịch; nổi bật là sự nhạy bén nắm bắt thời cơ và quyết tâm chuyển hướng tiến công kịp thời, chính xác của Bộ Tổng tư lệnh và lãnh đạo, chỉ huy của Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2. Chiến dịch có bước phát triển cao về nghệ thuật đánh giá tình hình so sánh lực lượng; nghệ thuật chọn đúng hướng, đối tượng, mục tiêu tiến công; nghệ thuật sáng tạo vận dụng cách đánh chiến dịch và đánh các trận then chốt; đặc biệt là nghệ thuật kết hợp chặt chẽ của bộ đội chủ lực cơ động với hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Lịch sử chiến tranh trên thế giới và các cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc để lại cho chúng ta một bài học quý giá được khái quát thành một quy luật tất yếu, trước khi kết thúc chiến tranh bao giờ cũng phải có một trận quyết chiến chiến lược, Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, là chiến dịch lớn nhất cả về quy mô lực lượng, cường độ tiến công, nội dung tác chiến hiệp đồng quân binh chủng và mức độ hoàn thành triệt để nhiệm vụ chiến lược cũng như mục tiêu của chiến tranh cách mạng. Trong một thời gian ngắn, ta đã tập trung vào chiến dịch một lực lượng quân sự lớn chưa từng có: 5 quân đoàn chủ lực, tổng cộng 15 sư đoàn và lực lượng tại chỗ của Nam Bộ, cùng với hàng chục sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn binh chủng, quân chủng, với nhiều vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Đây không chỉ là một thành công đặc biệt về khoa học tổ chức, mà còn là bước phát triển cao của nghệ thuật tạo ưu thế tuyệt đối hơn địch ở địa bàn quyết định, trong thời điểm quyết định. Trên cơ sở đánh giá đúng địch, ta đã hình thành thế trận hợp vây, chia cắt, vận dụng cách đánh sáng tạo, kết hợp tiến công và nổi dậy, kết hơp 3 thứ quân, trong và ngoài cùng đánh; đánh địch vòng ngoài, cô lập bên trong, kết hợp với chia cắt, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu đầu não, làm địch tan vỡ nhanh chóng. Thực hiện cách đánh chiến dịch như vậy, ta vừa dứt điểm nhanh gọn, vừa bảo đảm chắc thắng, làm giảm thiệt hại đến mức thấp nhất về tính mạng và tài sản của nhân dân. Thế trận và cách đánh chiến dịch đầy sáng tạo, trên cơ sở một lực lượng ưu thế đã đưa đến hiệu quả chiến dịch lớn nhất, hiệu suất cao nhất, trong thời gian ngắn nhất.

Nhìn lại toàn bộ tiến trình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, từ khi bắt đầu khởi xướng cho đến kết thúc toàn thắng và trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, có thể nói là mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương trong cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ xâm lược. Sự kiện lịch sử này là đỉnh cao của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, điển hình trực tiếp nhất là nghệ thuật nắm bắt đúng thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời; phân tích đánh giá đúng thế trận phòng ngự chiến lược của địch; chọn hướng tiến công chiến lược và mục tiêu chiến lược mở đầu chính xác. Chỉ đạo sâu sát, nhạy bén phát hiện thời cơ mới, chuyển từ tiến công chiến lược sang Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi nhanh nhất, lớn nhất; nghệ thuật tạo sức mạnh ưu thế áp đảo bằng tổng hợp sức mạnh của cả lực lượng và thế trận; nghệ thuật chọn cách đánh chiến lược, chiến dịch đúng đắn, sáng tạo, mưu lược cao. Đây cũng là những nét phát triển sáng tạo và độc đáo của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thế kỷ XX./.

(1) Đảng cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCHTƯ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV NXB sự thật – Hà Nội – trang 5,6

Võ Thanh Bình

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday2
mod_vvisit_counterYesterday75
mod_vvisit_counterThis week356
mod_vvisit_counterLast week554
mod_vvisit_counterThis month1741
mod_vvisit_counterLast month3733
mod_vvisit_counterAll172947
Online (20 minutes ago): 11
Your IP: 54.198.111.185
,
Now is: 2018-07-20 00:26