Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Quy định về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL trong dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, trong đó quy định những vấn đề cơ bản của một nhà nước về chế độ chính tri, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy nhà nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia v.v... Kể từ khi lập nước đến nay, nước ta đã xây dựng và ban hành bốn bản hiến pháp: 1946, 1959, 1980, 1992. Hiến  pháp 1992 được ban hành trong bối cảnh những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nược do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng(1986) đề ra. Nó đã tạo khuôn khổ chính trị- pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới.

               Đến nay, đất nước đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp là rất cần thiết. Về kết cấu, dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 có 11 chương, 124 điều, so với hiến pháp 1992 dự thảo giảm 1 chương, 23 điều, trong đó có 5 chương quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, chiếm một nửa về số chương của Hiến pháp 1992 sửa đổi. Để góp phần vào việc hoàn thiện bản dự thảo sửa đổi Hiến páp 1992, bài viết này xin đề cập đến một nội dung quan trọng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, đó là về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

  
            Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan nhà nước được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, để thực hiện thẩm quyền này phải được pháp luật cho phép( quy định) để tránh sự tùy tiện theo ý chí chủ quan của mỗi loại cơ quan trong bộ máy nhà nước. Do vây, Hiến pháp - đạo luật có giả trị pháp lý cao nhất cần có quy định về vấn đề này.
 
           Theo quy định của pháp luật hiện hành( Hiến pháp 1992, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật), các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng CP, Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sat nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp. Tuy nhiên, việc hiến định tronh Hiến pháp 1992 về thẩm quyền ban hàng văn bản quy phạm pháp luật đối với các chủ thể trên chưa có sự nhất quán, phù hơp và chặt chẽ. Cụ thể: (1) Đối với Quốc hội ngoài thẩm quyền là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp ( khoản 2 điều 83) nhưng không có quy định được ban hành nghị quyết để triển khai các nhiệm vụ của mình được quy định tại điều 84. Trên thực tế, Quốc hội ban hành nghị quyết để thực hiện nhiệm vụ của mình dựa trên căn cứ pháp lý hiện hành là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, (2) Đối với Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng không có quy định về việc được ban hành nghị quyết mà chỉ quy định được ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao( khoản 4 điều 91) trong khi điều 93 có quy định" Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành" và với quy định như vậy dược hiểu là Ủy ban thường vụ Quốc hội được ban hành nghị quyết, (3) Đối với Chủ tịch nước, Hiến pháp 1992 có quy định được ban hành lệnh, quyêt định để thực hiện nhiệm vụ của mình( điều 106), (4) Đối với Chính phủ được ra nghị quyết, nghị định; Thủ tướng chính phủ được ra quyết định, chỉ thị ( điều 115); Bộ trưởng được ra quyết định, chỉ thị, thông tư (điều 116), (5) Đối với Hội đồng nhân dân, Hiến pháp 1992 quy định: Hội đồng nhân dân ra nghị quyết ( điều 120); đối với Ủy ban nhân đân được ra quyết định, chỉ thị ( điều 121), (6) Đối với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân đân tối cao Hiến pháp 1992 không có quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, hiến pháp 1992 mới chỉ có quy định cho Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; còn đối với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoăc chưa quy định đầy đủ hoăc chưc có quy định về thẩm quyền này trong Hiến pháp 1992 mà mới chỉ có quy định trong Luật ban hành văn bản quy pham pháp luật.
 
            Trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, việc hiến định thẩm quyền ban hàng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ, thống nhất; vẫn còn dừng lại ở mức độ quy định như trong Hiến pháp 1992, thậm chí còn bỏ cả quy định về việc ra nghị quyết của Hội đồng nhân dân, ra quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân đã được quy định tại các điều 120, 124 của Hiến pháp 1992. Bên cạnh đó, tại khoản 2 điều 120 của dự thảo lại quy định" Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp Hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp…". Với quy định này thì các chủ thể được ban hành văn bản QPPL trong dự thảo sưa đổi Hiến pháp 1992 bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ thịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Hội đồng Hiến pháp.
             Từ những quy định còn chưa đầy đủ, đồng bộ, nhất quán như đã nêu trên, đề nghị cần bổ sung nội dung về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Cụ thể: (1) Đối vớ Quốc Hội, thêm một khỏan vào điều 15 (khỏan 16) là "Quốc Hội ra nghị quyết để thực hiên các nhiệm vụ của mình", (2) Đối với Ủy ban thường vụ Quốc hội thêm một khoản (khoản 12) vào điều 79 như sau " Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết để thực hiện nhiệm vụ của mình", (3) Đối với Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thêm một khoản ( khoản 4) vào điều 110 như sau " Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư để thực hiện nhiệm vụ của mình và của ngành", (4) Đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị thêm một khoản ( khoản 3) vào điều 113 như sau " Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư để thực hiện nhiện vụ của mình và của ngành ", (5) Đối với HĐND, UBND đề nghị thêm một khoản ( khoản 3) vào điều 116 như sau " HĐND ban hành nghị quyết, UBND ban hành quyết định, chỉ thị để thực hiên nhiện vụ của mình", ( 6) Đối với Hội đồng Hiến pháp đề nghị thêm cụm từ " ban hành nghị quyết để" vào sau cụm từ " Hội đồng Hiến pháp" và trước cụn từ " kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản QPPL…" tại khoản 2 điều 120. Ngoài ra cũng cần xác định Kiểm toán nhà nước có được ban hành văn bản QPPL không. Riêng đối với Chủ tịch nước đã được quy định tại điều 96, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các Bộ trương, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định tại điều 105 của dự thảo.
            Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL là một nội dung quan trọng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được pháp luật quy định và thực tế kiểm nghiệm về tính đúng đắn và hiệu quả của nó. Vấn đề này càng đúng với quan điểm chỉ đạo trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 theo nghị quyêt của Quốc hội khóa XIII nên rât cần đực Hiến định để phat huy hiẹu lực và hiệu quả của nó trong đời sống xã hội.    
Quách Cao Yềm

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday385
mod_vvisit_counterYesterday517
mod_vvisit_counterThis week1336
mod_vvisit_counterLast week3491
mod_vvisit_counterThis month10886
mod_vvisit_counterLast month11642
mod_vvisit_counterAll250929
Online (20 minutes ago): 17
Your IP: 54.163.20.123
,
Now is: 2019-05-21 18:07