Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Hồ Chí Minh – một con người – một nhân cách

Trong phần cuối “về việc riêng” của bản Di chúc đề ngày 15-5-1965, Hồ Chí Minh viết: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân”.

“Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là hỏa táng”

“Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn…”

 

             Năm 1968, Di chúc được Hồ Chí Minh sửa lại:

“Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. 1 hộp cho miền Bắc. 1 hộp cho miền Trung. 1 hộp cho miền Nam”.
“Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi…” [1]
 Đọc những đoạn Di chúc trên, làm sao chúng ta không cầm lòng được? Ta thấy ở Hồ Chí minh, những ngày tháng cuối đời, sức khỏe đã yếu dần, Người hoàn toàn có quyền nghĩ tới “việc riêng”. Song cái việc riêng đó, niềm tâm tư và tự ý thức về phần “cái tôi” đó của Người cũng toát lên một ý nghĩa xã hội hết sức rộng lớn, một giá trị nhân bản sâu sắc và một đạo đức vị tha tuyệt vời.
Thật là một bản sắc, độc đáo và nổi bật. Nhưng cái bản sắc, đó đối với nhân dân lại không hề xa lạ. Hồ Chí Minh càng gần gũi với quần chúng nhân dân bao nhiêu thì bản lĩnh, bản sắc của Người càng rõ nét bấy nhiêu. Người bao giờ cũng thật sự là mình, tự biểu hiện mình một cách tự nhiên, không gượng ép, với sự tự khẳng định một “cái tôi” chân chính.
Như tất cả mọi người, Hồ Chí Minh cũng là con người bằng xương bằng thịt. Con người Hồ Chí Minh nhất định cũng là sản phẩm tất yếu trong sự phát triển của giới tự nhiên. Những phẩm chất cao quý, riêng có ở Người có nguồn gốc sâu xa trong tự nhiên, là cơ sở hình thành nên một khí chất, một cá tính, một nhân cách hoàn thiện, hoàn mỹ…
Song có thể nhận thấy, cái làm nên nhân cách của con người không chỉ là phần tự nhiên, phần sinh học mà bao giờ cũng là một thể thống nhất, liên kết chặt chẽ giữa cái tự nhiên và xã hội. Nói như nhà triết học Pháp Lu-xiêng Sê-vơ: “nhân cách là hệ thống hoàn chỉnh các quan hệ xã hội giữa các hành vi ứng xử”[2], thì đúng như vậy, sự tác động của điều kiện và hoàn cảnh xã hội đã thực sự quyết định và vẽ nên chân dung nhân cách người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh. Nhìn vào cuộc đời Người và quá trình hoạt động xã hội của Người – từ khi là một anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đến khi là một vị chủ tịch nước, Hồ Chí Minh – ai cũng thấy rõ điều đó.
Rời bến Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn bước xuống con tàu La-tút-sơ Tê-rê-vin-lơ, Nguyễn Tất Thành lúc đó mới 21 tuổi. Anh quyết định sang châu Âu tìm đường cứu nước, giải phóng nhân dân khỏi ách nô lệ. Cắt nghĩa thế nào về một quyết định táo bạo và đầy nguy nan, mạo hiểm đó? Phải chăng chỉ có thể lý giải, đó là kết quả của một quá trình tự ý thức đã đạt đến đỉnh cao về trách nhiệm của một công dân với tổ quốc, với đồng bào mình.
Xem xét các yếu tố tác động lên quá trình hình thành nhân cách và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tự ý thức của Nguyễn Tất Thành, ta thấy giáo dục trong gia đình và ảnh hưởng của truyền thống quê hương là điều đáng ghi nhận.
Nguyễn Tất Thành sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho nghèo. Thuở nhỏ, anh được cha dạy cho tư tưởng đại đồng của học thuyết Khổng Tử. Lớn lên, cuộc sống thực của cha, của anh chị và họ hàng thân tộc đều để lại trong lòng Nguyễn Tất Thành những ấn tượng tốt đẹp.
Đất Lam Hồng, quê hương của Nguyễn Tất Thành là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và đấu tranh anh dũng chống xâm lược, nơi quy tụ nhiều danh nho yêu nước, nơi khởi xướng nhiều cuộc vận động cách mạng sôi nổi, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã sinh ra và được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa như vậy.
Truyền thống yêu nước và tinh thần giữ nước của các bậc cha chú đã thấm vào máu thịt Nguyễn Tất Thành và trở thành đặc điểm nổi bật trong tính cách của anh. Anh day dứt băn khoăn trước những nghịch cảnh thương tâm trong đời sống xã hội và từng đặt câu hỏi: Tại sao người Pháp với tư tưởng tự do, bác ái lại đi xâm lược nước khác? Tại sao những “ông Tây bà Đầm” trên đất Việt lại sống quá sung sướng thừa thãi, còn người Việt ai cũng bần cùng khốn khổ? Nỗi trăn trở suy nghĩ đó đã đánh thức trong anh lòng yêu nước, thương dân với quan điểm cốt lõi là chủ nghĩa nhân đạo.
Ở tuổi trưởng thành, Nguyễn Tất Thành cùng cha vào Huế, thực tế sinh động ở đây đã giúp anh hiểu hơn các vấn đề xã hội. Đặc biệt là sự ảnh hưởng của các phong trào chống Pháp của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Tại sao phong trào Đông Du đang phát triển mãnh mẽ như vậy mà Nguyễn Tất Thành lại nhất quyết đi về phương Tây? Sau này, chính Hồ Chí Minh kể lại: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi: Ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy cần phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[3]. Chân lý quả bao giờ cũng thật giản dị. Song ở vào thời điểm bấy giờ nhất định đó phải là sự tính toán, cân nhắc ký lưỡng, một sự lựa chọn đầy trí tuệ, thể hiện một nhân cách chính trị đã được bộc lộ rất sớm ở Nguyễn Tất Thành.
Sau nhiều năm bôn ba hầu hết các lục địa, lao động kiếm sống, vừa quan sát tìm hiểu, vừa tham gia phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc, vừa học tập văn hóa phương Tây rồi tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin…Một giai đoạn có vai trò to lớn, mở mang tri thức, nâng tầm văn hoá ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.
Nói chuyện với sinh viên một trường đại học ở In-đô-nê-xi-a (năm 1959), Hồ Chí Minh bộc bạch:
“Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học. Tôi đã đi du lịch để làm việc. đó là trường đại học của tôi, đó là trường học của tôi. Trường học ấy đã dạy tôi khoa học xã hội, nó đã dạy tôi cách yêu, cách ghét, yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình và căm ghét áp bức, ích kỷ…”[4].
Về cách ghét, cách yêu ở Hồ Chí Minh là điểm cốt lõi tạo nên nhân cách Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh có một tấm lòng yêu thương vô hạn, tấm lòng rộng mở bao dung đến vô cùng. Lòng thương người ở Hồ Chí Minh không phải thuần túy là lòng trắc ẩn, càng không phải là sự ban ơn của kẻ trên đối với kẻ dưới. Ở Người, lòng nhân ái, tình thương yêu chuyển dần thành tư tưởng nhân đạo cao cả, đó là tình cảm luôn hướng về số đông, hướng về giai cấp vô sản cùng khổ và tất cả những người lao động, những người bị áp bức trên thế gian này, không phân biệt chính kiến, màu gia hay tín ngưỡng.
Hồ Chí Minh không chỉ có tấm lòng, có cái “tâm” ngời sáng mà ở Người còn thể hiện tầm tư duy xa rộng, một sự hiểu biết thông tuệ. Với tư chất thông minh và ham học hỏi, Người đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa phương Đông, các quan điểm dân chủ, nhân đạo, tiến bộ của văn hóa phương Tây, đặc biệt tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng vô sản tiên tiến của chủ nghĩa Mác – Lênin. Với ý chí kiên cường và nghị lực phi thường, Người tự võ trang cho mình vốn kiến thức và bản lĩnh học vấn tiếp cận đến tầm văn hóa thế giới.
Với kiến thức thâm sâu, trình độ dự báo khoa học đến thiên tài, Hồ Chi Minh đã vạch đường đi cho dân tộc, xác định chiến lược cho cách mạng Việt Nam bằng vốn lý luận và kinh nghiệm thực tiễn sinh động của mình. Quan điểm “thêm bạn bớt thù”, “dựa vào dân”, “đoàn kết đại đoàn kết, thành công đại thành công”…được hình thành do đánh giá đúng khả năng, nguyện vọng của mọi tầng lớp quần chúng trong và ngoài nước, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ, tạo thế và lực cho cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đối với Hồ Chí Minh, lòng yêu thương, tình cảm và trí tuệ, chỉ có ý nghĩa khi nó biến thành hành động, ý chí. Ý chí ở đây là sự tuân thủ tính tất yếu lịch sử, phản ánh đúng quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Bản thân Hồ Chí Minh là một con người có ý chí, một ý chí kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa lý trí và tình cảm. Lời nói đi đôi với việc làm.
Ý chí sắt đá và mạnh mẽ nhất, có lẽ là ý chí giải phóng dân tộc. Người từng quả quyết: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi…”[5].
Thực hiện ý chí “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, nhân dân ta đã hoàn thành xuất sắc lời kêu gọi và ý nguyện của Người, giành lại thống nhất tổ quốc, giang san thu về một mối.
Một tấm lòng yêu thương, rộng mở, bao dung, một trí tuệ thông kim bác cổ, một ý chí quật cường hội tụ vào một con người – con người Hồ Chí Minh, thành nhân cách Hồ Chí Minh – một trong những nhân cách lớn của thời đại trong thế kỷ XX. Nhân cách ấy có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của bao thế hệ cách mạng cho đến ngày nay và mai sau trên đất nước ta.
Có người nước ngoài băn khoăn đặt câu hỏi: “Hồ Chí Minh là một con người bình thường hay là một ông Thánh?”. Phạm Văn Đồng, người đồng chí, người học trò xuất sắc và gần gũi với Hồ Chí Minh đã trả lời dứt khoát: “Hồ Chí Minh trước hết là một con người và cuối cùng cũng chỉ là một con người…”[6].
Lê Thị Nghệ- Khoa Dân vận

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday98
mod_vvisit_counterYesterday665
mod_vvisit_counterThis week1996
mod_vvisit_counterLast week4200
mod_vvisit_counterThis month9713
mod_vvisit_counterLast month18885
mod_vvisit_counterAll284382
Online (20 minutes ago): 18
Your IP: 54.172.234.236
,
Now is: 2019-07-17 04:04