Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Vốn – Nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội

Vốn là một phạm trù kinh tế trong nền kinh tế thị trường, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Việt Nam có nền kinh tế đang phát triển, vốn vừa là phương thức, vừa là điều kiện để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế; vốn tạo ra khả năng huy động, sử dụng và khai thác hiệu quả mọi nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Bài viết này, nghiên cứu vai trò, tác động của vốn đối với phát triển kinh tế xã hội.

              1. Một số quan niệm về vốn đối với phát triển kinh tế

Nhà kinh tế học Adam Smith đã nghiên cứu và đi đến kết luận vai trò của vốn thông qua phạm trù tư bản: vốn là tư bản mang lại thu nhập, tư bản là cái bộ phận dự trữ nhờ đó mà con người trông mong nhận được thu nhập­­(1). Nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng tư duy biện chứng và phương pháp khoa học, C.Mác đã làm rõ bản chất kinh tế của vốn là khởi đầu của quá trình sản xuất, kinh doanh, Ông chỉ rõ: “giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động đó đã biến giá trị thành tư bản”(2). Như vậy, bản chất của vốn là giá trị, chức năng của vốn là sinh lời, nhưng để giá trị thành tư bản và tư bản sinh lời phải trải qua quá trình vận động. Thông qua sự vận động, tư bản sinh sôi nảy nở, tiền đẻ ra tiền và lớn lên không ngừng. C.Mác đã khẳng định “giá trị trở thành giá trị tự vận động, thành những đồng tiền tự vận động, và với tư cách là như thế, nó trở thành tư bản. Nó ra khỏi lĩnh vực lưu thông rồi lại trở lại lưu thông, tự duy trì và sinh sôi nảy nở trong lưu thông, quay trở về dưới dạng đã lớn lên và lại không ngừng bắt đầu cũng một vòng chu chuyển ấy”(3).

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, vốn là loại hàng hóa đặc biệt không chỉ là nguồn lực quan trọng đối với các nước phát triển, mà còn là yếu tố cấp thiết đối với hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Do đó, vốn đã được các nhà kinh tế học luôn quan tâm nghiên cứu và tiếp cận ở những hình thái khác nhau.

Một là, dưới hình thái tiền tệ, vốn là tiền của bỏ ra kinh doanh nhằm sinh lời(4). Vốn tiền tệ luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất, đồng thời từ trạng thái vật chất sang hình thái tiền tệ.    

Hai là, dưới hình thái vật chất, tổng số vốn của nền kinh tế đã tích luỹ được còn gọi là tài sản quốc gia. Tài sản quốc gia được tích luỹ, có thể chia thành hai nhóm: vốn sản xuất và vốn phi sản xuất.

- Vốn sản xuất, bao gồm công xưởng, nhà máy; trụ sở, trang thiết bị văn phòng; máy móc, phương tiện vận tải; các công trình hạ tầng; tồn kho của tất cả các loại hàng hóa(5). Đây là những tư liệu sản xuất không được chuyển hóa hết giá trị trong một quá trình kinh doanh, có thể được tái sử dụng trong những quá trình kinh doanh tiếp theo.

- Ngoài vốn sản xuất, tài sản quốc gia còn bao gồm vốn vật chất phi sản xuất như các công trình phúc lợi công cộng, công trình kiến trúc quốc gia, các cơ sở quân sự... Như vậy, vốn sản xuất phản ánh năng lực sản xuất của một doanh nghiệp hay của một quốc gia và nó quyết định khả năng hấp thụ vốn đầu tư.

Ba là, vốn đầu tư, là toàn bộ các khoản chi phí vật chất hoạt động đầu tư, bao gồm việc thay thế, phục hồi, sửa chữa, phát triển mới các công trình kinh tế, phúc lợi xã hội(6). Vốn đầu tư còn là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở kinh doanh, dịch vụ của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực kinh tế lớn hơn trong kinh doanh, dịch vụ(7).

Vốn đầu tư bao gồm đầu tư cho sản xuất và đầu tư cho phi sản xuất. Vốn đầu tư cho sản xuất là khoản chi phí để thay thế tài sản cố định bị thải loại thông qua quỹ khấu hao và chi phí để tăng tài sản cố định mới, tăng tài sản tồn kho và được gọi là tổng đầu tư (đầu tư thuần tuý chỉ bao gồm phần tăng mới). Còn vốn đầu tư cho phi sản xuất chủ yếu là đầu tư các công trình công cộng, phúc lợi xã hội, căn cứ quân sự. Như vậy, vốn đầu tư nhằm bù đắp các tài sản quốc gia trong quá trình sử dụng, tăng mới tài sản quốc gia, đồng thời đảm bảo cho chiến lược, mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bên cạnh vốn tồn tại dưới hình thái vật chất, còn có các loại vốn vô hình như: bằng phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, thương hiệu, sở hữu trí tuệ… không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng nó đóng vai trò giá trị kinh tế cao và cũng là nguồn lực vốn không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, vốn là nguồn lực kinh tế rất quan trọng, nó hình thành và phản ánh sự vận động tồn tại của các quan hệ hàng hóa - tiền tệ trong nền kinh tế thị trường hiện đại.

2. Vai trò, tác động của vốn đối với phát triển kinh tế - xã hội

- Vai trò của vốn được phân tích qua hàm sản xuất đơn giản và nổi tiếng, do hai nhà kinh tế Roy Harrod (người Anh) và Evsey Domar (người Mỹ) nêu ra từ những năm 1940(8); theo đó, chỉ ra mối quan hệ tăng trưởng kinh tế với hệ số gia tăng tư bản đầu ra (ICOR) và tỷ lệ đầu tư. Khối lượng vốn tăng thêm để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế được tính theo công thức:

                                              G =i/k

Trong đó,      G: là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (GDP hoặc GNI);

                        i: tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế theo (GDP hoặc GNI);

                        k: hệ số gia tăng tư bản - đầu ra (ICOR). Hệ số này cho biết để có một đơn vị sản phẩm tăng thêm thì cần bao nhiêu đơn vị khối lượng vốn đầu tư.

Theo Harrod và Domar, quan hệ cơ bản ở phương trình trên thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm (S), tiết kiệm là nguồn của đầu tư (S = I) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR; nghĩa là, để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và lâu dài của nền kinh tế cần phải giữ vững và gia tăng tỷ lệ đầu tư vốn, đồng thời khống chế ở mức chấp nhận được đối với hệ số gia tăng vốn. Giả sử: mục tiêu nước ta để đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm (2010 - 2015) của nền kinh tế là 7,8% với hệ số ICOR là 3,6 thì vốn đầu tư phải đạt được 28,1% trong GDP (hoặc GNI). Nếu sai lầm trong đầu tư phát triển kinh tế dẫn đến sai lầm trong cơ cấu đầu tư cùng với việc sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả làm tăng nhanh hệ số ICOR kéo theo việc giảm sút tỷ lệ đầu tư (I) sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và khả năng tiết kiệm (S) của nền kinh tế. Với hệ số ICOR ước lượng được và mục tiêu tăng trưởng đã hoạch định thì mô hình sẽ tính được tỷ lệ tiết kiệm đầu tư cần thiết cho tăng trưởng.

Khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và quá trình tích luỹ tư bản ngày càng tăng, C.Mác đã đề cập đến vai trò của tư bản (vốn tiền tệ) và đưa ra công thức vận động của vốn tiền tệ:   T  -  T'   (T' > T)

Công thức này chính là tuần hoàn của tư bản công nghiệp:

                                           TLSX

       T - T - H:                          ... SX ...           H' - T' - T''

                              SLĐ

Quá trình vận động của vốn tiền tệ (T - T'), điểm xuất phát là T và điểm kết thúc là T' (T' > T; T' = T + Dt, Dt > 0). T là phương tiện ứng ra trong lưu thông, T' là mục đích đạt được trong tuần hoàn của tư bản tiền tệ, còn sản xuất chỉ là khâu trung gian, là một “sự cố y2k” cần thiết để làm tăng vốn tiền tệ (T'). Như vậy, trong nền kinh tế hàng hóa sự vận động của vốn là từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng đều lấy vốn “tiền tệ” làm điểm xuất phát của sự biến hóa. Điều này, cho chúng ta thấy hình thái tuần hoàn của vốn tiền tệ là phương thức vận động chung cho tất cả các nền kinh tế thị trường, chứ không phải chỉ riêng có của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghĩa là, vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường phải vận động theo tuần tự: vốn tiền tệ là điểm xuất phát, được ứng ra với tư cách là giá trị trong hình thái tiền dùng để chuyển hóa thành giá trị dưới hình thái các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh. Thông thường, kết quả của sản xuất, kinh doanh được thực hiện trên thị trường qua lưu thông, trao đổi đến tiêu dùng sẽ thu về một lượng vốn bằng tiền (T') lớn hơn tiền ứng ra ban đầu (T). Nếu xét dưới một giác độ khác thì lưu thông hàng hóa (bao gồm tư liệu sản xuất, sức lao động và hàng hóa thành phẩm) quyết định lưu thông vốn tiền tệ. Nhưng, thực tế lưu thông của vốn tiền tệ tác động mạnh mẽ đến lưu thông hàng hóa, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có, cũng như tương lai về sức lao động và làm tăng vốn tiền tệ khi kết thúc một chu kỳ tuần hoàn (T – T'). Nhìn tổng thể, chúng ta thấy lưu thông vốn tiền tệ sẽ thúc đẩy lưu thông hàng hóa, lưu thông hàng hóa được trôi chảy sẽ làm cho tốc độ chu chuyển vốn và tăng trưởng nguồn vốn lớn lên không ngừng. Như vậy, trong quá trình sản xuất hàng hóa hai nhân tố tư liệu sản xuất và sức lao động quyết định trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm; trong đó, việc chuyển hóa bảo tồn giá trị và làm tăng thêm giá trị mới cho sản phẩm là do lao động sống quyết định. Nhưng trong nền kinh tế thị trường, chúng ta thấy dù kinh doanh ở bất cứ lĩnh vực nào, thuộc ngành nào vốn là một trong những tiêu thức để phân loại quy mô, xếp loại của doanh nghiệp, hay để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia thì phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ do tiết kiệm được hoặc phải huy động một lượng vốn tiền tệ từ các nguồn khác nhau trong xã hội, trên cơ sở đó mới tiến hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội.

- Tác động của việc đầu tư vốn đối với phát triển kinh tế - xã hội phản ánh qua hai giai đoạn, cụ thể là:

Ở giai đoạn đầu, sự tăng vốn đầu tư làm tác động đến tổng cầu, tăng sản lượng và công ăn, việc làm; khi đầu tư tăng, có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện, nguyên vật liệu… tăng lên và kéo theo sự biến động “tăng” giá cả. Quá trình đầu tư tạo ra chủ yếu là nhu cầu về tư liệu sản xuất, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam là cần thiết và nhu cầu xuất khẩu hàng hóa để nhập khẩu tư liệu sản xuất là yêu cầu bức thiết để phát triển đất nước.

Ở giai đoạn hai, đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất bao gồm tài sản cố định như máy móc, trang thiết bị, công xưởng…, hàng hóa tồn kho cho sản xuất và các tài sản vật chất phi sản xuất. Vốn sản xuất tăng lên làm tăng sức sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế theo hướng tác động đến tổng cung bằng tăng sản lượng, tăng việc làm và kéo theo mức giá giảm. Giai đoạn này, sự gia tăng vốn không chỉ làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng sản lượng, chất lượng hàng hóa, năng suất lao động mà còn nâng cao trình độ khoa học công nghệ cả bề rộng lẫn chiều sâu, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân; tạo ra khả năng toàn dụng và sử dụng hiệu quả tài nguyên, lao động của các doanh nghiệp và của nền kinh tế. Có thể nói, vốn trở thành nhân tố rất quan trọng, tạo ra khả năng huy động, sử dụng và khai thác hiệu quả mọi nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và thực hiện dân giàu, nước mạnh, công bằng xã hội.

Đối với Kon Tum là một tỉnh miền núi, nền kinh tế cơ bản vẫn là thuần nông; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội yếu kém và thiếu đồng bộ, thiếu sự liên kết vùng. Trình độ học vấn thấp, chất lượng nguồn nhân lực và sự nhận thức, hiểu biết, tiếp thu, lĩnh hội, nắm bắt kiến thức kinh tế hàng hóa của nhân dân còn hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Do đó, vốn trở thành nhân tố có tính cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, tăng năng lực thực hiện nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, cũng như thực hiện chính sách dân tộc, giảm nghèo bền vững và công bằng xã hội./.

 
 

                                                                                                 Trần Thanh Hùng

 

1. I.Đ.V. Đanxốp và F.I. Pôlianxki, Lịch sử tư tưởng kinh tế, Phần thứ nhất, tập III, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1994, tr.153

.C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, tr.228

3. C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, tr.233-234

4. Trung tâm từ điển học , Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 2000, tr.1126

5. Vũ Thị Ngọc Phùng, Kinh tế phát triển, Nxb Lao động, Hà Nội 2005, tr.229

6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Hà Nội (1997),Khai thác và huy động các nguồn lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế  -  xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc, Đề tài cấp Bộ, tr.10.

7. Nguyễn Ngọc Mai , Phân tích và quản lý các dự án đầu tư, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 1995, tr.18.

8. Trần Văn Chử, Kinh tế học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999, tr.140-141.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday385
mod_vvisit_counterYesterday517
mod_vvisit_counterThis week1336
mod_vvisit_counterLast week3491
mod_vvisit_counterThis month10886
mod_vvisit_counterLast month11642
mod_vvisit_counterAll250929
Online (20 minutes ago): 17
Your IP: 54.163.20.123
,
Now is: 2019-05-21 18:10