Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Miếu thờ Nguyễn Hoàng, thực trạng di tích và vấn đề bảo tồn

Tôi về làng An Nha[1] vào những ngày cuối tháng Sáu, một ngày đầy nắng của miền đất gió lào. Mặc dù dấu tích của chúa Nguyễn Hoàng không còn nhiều ở đây, nhưng vẫn còn đâu đó những thao thức về miền đất “dung thân” của chúa Nguyễn.

           Ngoài hệ thống Giếng cổ hiện còn nguyên vẹn như Giếng Đào, Giếng Trạng, Giếng Phường, Giếng Búng… minh chứng cho sự phát triển về trình độ chế tác đá, trình độ văn minh của các công trình thủy lợi với hệ thống ruông bậc thang hiếm có mà các bậc tiền nhân đã khai thác để sản xuất nông nghiệp, tôi tìm đến di tích Miếu thờ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, sau này qua các thế hệ, làng gọi là chùa Long Phước.

Chùa Long Phước là một trong những di tích thờ Chúa Nguyễn Hoàng cổ xưa nhất của cư dân vùng Bái Trời cách đây hơn 400 năm. Cho dẫu còn ít ỏi và phần nào hoang phế thì ngần ấy dấu tích vẫn đủ sức thức gợi cả một trời quá khứ:

Nguyễn Hoàng[2] là con thứ hai của Nguyễn Kim, sinh ngày Bính Dần, tháng 8, năm Ất Dậu, dưới thời vua Lê Trang Tông năm thứ 4 (1525). Lớn lên, Nguyễn Hoàng tướng mạo khôi ngô, vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thông minh tài trí, kẻ thức giả đều biết ấy là bậc phi thường. Là một vị tướng tài, luôn làm cho quân nhà Mạc khiếp sợ, đi đến đâu quận địch đều kinh sợ tháo chạy, được dân chúng ngưỡng mộ mến phục.

Sau khi Nguyễn Kim mất, sự phân hoá trong nội bộ nhà Lê đã dẫn đến cái chết bất thường của Nguyễn Uông (con trai trưởng của Nguyễn Kim), Nguyễn Hoàng nhận thấy nguy cơ hãm hại của anh rể là Trịnh Kiểm (người đã mưu sát cha và anh của Nguyễn Hoàng). Một mặt là để tránh nguy cơ đó; mặt khác, với ý đồ tạo dụng cơ nghiệp cho chính dòng họ Nguyễn về sau, khi nhận thẩy vai trò của mình ở xứ Bắc Hà gặp nhiều bất lợi, Nguyễn Hoàng đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa, miền đất được sử sách nhắc đến là vùng “ô châu ác địa” thời bấy giờ. Ngay từ lúc mới vào trấn thủ, Nguyễn Hoàng đã thực hiện nhất quán chính sách đức trị, nhưng vẫn ưu tiên binh bị. Việc đầu tiên mà ông quan tâm đó là củng cố phòng thủ. Ông cho xây các đồn ở cửa biển để bảo vệ miền duyên hải, nhằm đánh dẹp dư đảng nhà Mạc và bắt đầu xây dựng giang sơn riêng cho họ Nguyễn.

Mùa thu (tháng 7 âm lịch), năm 1572, nhân lúc Trịnh Kiểm mới mất, con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng đánh nhau, nhà Mạc đem quân vào đánh Thanh Hóa và sai tướng là Lập Bạo[3]đem 60 binh thuyền vượt biển vào đánh Nguyễn Hoàng. Quân Lập Bạo đóng trại từ con đường xã Hồ Xá đến đền Thanh Tương, xã Lãng Uyển (làng Lãng Phước, tục gọi là làng Lãng, phủ Triệu Phong). Thế quân Lập Bạo rất mạnh. Nguyễn Hoàng phải dùng “mỹ nhân kế” mới diệt được Lập Bạo. Tướng giặc bị diệt, quân giặc đem nhau ra hàng. Điều đặc biệt là Nguyễn Hoàng đã không giết hàng binh mà cho họ quyền được sống và “làm lại cuộc đời” trên vùng đất mới: đó là khai phá vùng đất đỏ Cồn Tiên, lập thành 36 phường ở tổng Bái Ân. Nhớ ơn Nguyễn Hoàng, thế hệ con cháu dân các phường ở đây đã dựng nên miếu thờ Nguyễn Hoàng.

 Năm 1695, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), “đã đặt Ty Thừa để coi sốc quốc miếu”  “sai đem mũ áo và áo bào thần ngự bày ở miếu, lại cử người để coi sốc cẩn thận” [1]. Đến năm “Minh Mạng thứ 4 (1823) khiến dựng làm chùa, xây dựng biển ngạch, cấp công điền thổ 70 mẫu, tha tô thuế, để cung cấp tự sự, lại cấp cho 3 người từ phu, được miễn lao dịch” [2]. Như vậy, việc thờ này phải do triều đình đảm trách, nên miếu thờ Nguyễn Hoàng đã đổi thành chùa Long Phúc (còn gọi là chùa Long Phước). Trãi qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc, hiện Chùa không còn nguyên vẹn, chỉ còn dấu tích của nền móng.

1. Tìm dấu Miếu xưa:

Diện tích khu di tích khoảng 1000 mét vuông, có tường thành đắp đất và kè đá bao quanh cao 1 mét, cổng hướng ra phía Bắc. Phía trước di tích là một khoảng ruộng, có thể khoảng ruộng này cũng như những mô đất nhô cao bao quanh, là dấu vết để phân biệt ruộng của chùa với ruộng của dân làng An Định[4].

Theo truyền khẩu của người dân địa phương thì phần ruộng trước chùa do dân ba phường đóng góp để làm tự điền. Ruộng được chọn là ruộng nằm ở đầu nguồn của giếng Búng, nước giếng Búng phải tưới cho ruộng hương hỏa trước, sau đó mới tưới đến ruộng dân. 

Các vị cao niên trong làng kể rằng: xưa chùa có thờ một võ trấu to bằng bàn tay với ý nghĩa cầu mong mùa màng bội thu cũng như những quan niệm về thần linh (Thái tổ Nguyễn Hoàng) hiện diện phò giúp, “ngôi chùa này rất linh thiêng, vào mùa cấy lúa, riêng ruộng chùa khi cấy phải quay mặt vào chùa, không được quay lưng lại, người phụ nữ cấy nếu phạm phải sẽ sinh bệnh tật”[6]. Theo định kỳ tức vào rằm tháng Sáu, dân ba làng tiến hành cúng lễ. Lễ cúng tiến hành trang nghiêm[7], ở gian giữa là hội chủ đại diện làng An Nha, bên tả là đại diện làng An Hướng và bên hữu là đại diện làng Phương Xuân, nội dung chính của phần lễ chủ yếu nhắc đến công lao của Thái tổ Nguyễn Hoàng[8] qua bài văn tế, được viết trên giấy vàng, sau khi cúng tế xong, bài văn tế đó được đốt đi và xem như Ngài (Nguyễn Hoàng) đã nhận. Đồng thời, báo cáo với các vị thần linh về vụ mùa năm nay, cầu xin các vị phù hộ độ trì cho cuộc sống nhân dân đặng yên ổn. Năm nào gặp đại hạn, hội chủ của ba làng phải ăn chay tại chùa, cầu mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi. Sau phần cúng tế có hát bộ, do quan huyện cầm chầu, theo lệ ba năm chầu một lần[9].

Nền móng của ngôi chùa chỉ còn 4 hàng trụ đá nằm song song với nhau, nằm về hai phía, mỗi phía hai hàng gần nhau, mỗi hàng có 5 trụ đá, ăn sâu vào nền đất, mặt trụ hình tròn, nằm cùng mức với mặt nền đất, mặt trụ nhẵn, không lõm, như vậy hiện còn tất cả là 20 trụ đá. Xung quanh nền đất dựng ngôi miếu xưa là những bờ thành bao bọc được xếp bằng đá. Qua tìm hiểu thực địa cũng như qua lời kể của các vị cao niên, ít nhiều hình dung được về dáng dấp của ngôi chùa, theo tôi thì lối kiến trúc của chùa thuộc về các ngôi chùa có thời gian khởi tạo sớm (trước thế kỷ XVII) hiện còn trên địa bàn tỉnh. Theo lối kiến trúc này, có thể ngôi chùa chỉ có một điện thờ theo lối kiến trúc 3 gian, 2 chái, mặt tiền của ngôi điện mở ra từ gian chái[10], phần tiền đường được tính bao gồm không gian của gian chái và một gian phía trước; hai gian phía sau được xem là chính điện - nơi tập trung để thờ Thái Tổ (Nguyễn Hoàng), gian chái còn lại phía sau được sử dụng làm nơi thờ thần. Ngoài ra còn có một nhà ngang phía sau được sử dụng làm nơi ở của vị sư trụ trì hay là người được làng cử ra để coi sóc chùa (từ phu).

2. Thực trạng di tích và vấn đề bảo tồn:

Hiện chỉ còn lại một phần phế tích trong số những di tích thời kỳ các chúa Nguyễn trên địa bàn xã An Nha, mặc dù, khu vực người xưa dựng miếu (về sau gọi là chùa) này đã được công nhận là di tích cấp tỉnh: Di tích đã xếp hạng[11] rồi nhưng lại nằm hoang phế, khuất lấp bởi cây hoang, cỏ dại. Dấu tích của vị chúa buổi đầu mở cõi bây giờ thật quạnh hiu, ít người qua lại. Phía trước di tích là một khoảng ruộng rộng lớn của địa phương, phía sau chủ yếu là núi đồi và gần nền chùa có một phần đất được xem như là đất hoang, nếu không có sự chú ý và quan tâm nào, khu vực nơi vị trí chùa tọa lạc sẽ bị con người xâm hại nghiêm trọng.

Di tích miếu thờ Nguyễn Hoàng vừa mang tính di sản về văn hóa lịch sử của dân tộc vừa là nơi ghi dấu ấn về một vị chúa có nhiều đóng góp vào sự nghiệp mở mang vùng đất này cũng như đất nước một thời gian dài đã bị con người vô tình hay hữu ý lãng quên ?

Quảng Trị, kinh đô đầu tiên của nhà Nguyễn, là thủ phủ khai nguyên xứ Đàng Trong. Thời gian gần 70 năm làm thủ phủ chưa phải là dài, nhưng ý nghĩa của miền đất này không đo đếm bằng thời gian mà chính là những gì nó đã mang lại cho nhà Nguyễn trong buổi “vạn sự khởi đầu nan”. Bởi vậy, khi Huế là chính dinh, các chúa không quên tôn phong đất Ái Tử là “Cựu dinh”. Cho dẫu dấu tích của buổi đầu chúa Nguyễn Hoàng mở cõi hay về sau, khi những vị vua yêu nước tiếp tục chọn Quảng Trị lập căn cứ kháng chiến, đã bị nhạt nhòa thì trong tâm khảm con dân miền đất này vẫn ghi lòng tạc dạ niềm tri ân với tiền nhân. Trong đợt khảo sát, điền dã thực địa, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn của ủy ban xã và người dân địa phương, lắng nghe những mong muốn, nguyện vọng của họ trong việc tu bổ, phục dựng những di tích quý giá mà lịch sử để lại, người dân địa phương đã nhiều lần đề nghị nhưng không nhận được sự quan tâm nào của các ban ngành.

 

                                                   Trần Thu Hương:  Khoa Xây dựng Đảng

 

Tài liệu tham khảo:

1. Lê Đình Cai (1971), Ba mươi tư năm cầm quyền của chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Đăng Trình, Sài Gòn, tr.78.

2. Văn hóa tùng thư, Đại Nam nhất thống chí tỉnh Quảng Trị và tỉnh Quảng Bình, bản dịch của Tu trai Nguyên Tạo, Nha Văn hóa, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, tr.53.

 

[1] xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

[2] Năm 1558 Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (xứ Thuận Hóa lúc đó bao gồm ba tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) khai sáng nên sự nghiệp 9 đời Chúa ở xứ Đàng Trong và triều đại 13 đời Vua nhà Nguyễn sau này.

[3] Mạc Lập Bạo là võ tướng nhà Mạc, còn có tên là Nguyễn Lập. Ông vốn họ Nguyễn, cháu nội đại thần Nguyễn Kính, con danh tướng Nguyễn Liễn. Cha ông trung thành với nhà Mạc, nên cho theo họ Mạc, đổi tên là Mạc Ngọc Liễn, nên ông cũng họ Mạc. Quê ông ở xã Dị Nậu, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Lập Bạo có nhiều công trạng, được Mạc Mậu Hợp phong tước Lập Quận Công, trấn giữ châu Bố Chính, vùng đất Quảng Bình ngày nay, rồi sau ra trấn xứ Hải Dương. Khi làm Đô đốc trấn thủ hai xứ Thuận Quảng, ông đóng doanh trại ở miền huyện Khang Lộc, trước có tên là Kiến Lộc, đời Nguyễn đổi là Phong Lộc, nay vùng thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

 [4] Ủy ban nhân dân xã Gio An cho biết, diện tích toàn bộ của làng An Nha là 1.500 m2, trong đó có 1 mẫu (diện tích phía sau chùa) không sản xuất được.

[5] Ảnh do tác giả chụp: ngày 25 tháng 6 năm 2011.

[6]  Lời kể của ông Phan Công Lũy.

[7] Nước dùng để cúng lễ phải được lấy từ giếng gần chùa, nhân dân gọi là “Giếng Trạo”.

[8] Qua đợt khảo sát và điền dã thực địa, tôi tìm được bài văn tế Thái tổ Nguyễn Hoàng (tài liệu chưa từng công bố) do ông Phan Công Lũy (người dân địa phương) cất giữ qua nhiều đời.

[9] Tài liệu điền dã.

[10]  Kiểu này phổ biến ở các ngôi chùa làng theo dòng Phật giáo dân gian Đại Việt như cách dân gian thường gọi là "đình ngang, chùa dọc".

[11] Ngày 20/8/2004, UBND tỉnh Quảng Trị đã cấp Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh cho chùa Long Phước (“Đại Nam thực lục” gọi là chùa Long Phúc).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday98
mod_vvisit_counterYesterday665
mod_vvisit_counterThis week1996
mod_vvisit_counterLast week4200
mod_vvisit_counterThis month9713
mod_vvisit_counterLast month18885
mod_vvisit_counterAll284382
Online (20 minutes ago): 18
Your IP: 54.172.234.236
,
Now is: 2019-07-17 04:04