Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Tổ chức quân đội ở Quảng Trị dưới thời các chúa Nguyễn

Đến thế kỷ XVI, triều Lê suy tàn, đất nước bước vào thời kỳ hỗn loạn, mâu thuẫn xã hội gay gắt, việc tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến trở nên quyết liệt. Tình hình này dần được thay đổi bởi một biến cố: năm 1545, Hưng Quốc công Nguyễn Kim[1] mất, quyền hành trong triều đình rơi vào tay con rể của ông là Trịnh Kiểm.


 

Để thâu tóm quyền hành, Trịnh Kiểm ngấm ngầm ám hại các em vợ. Sau cái chết bất thường của anh (Nguyễn Uông-con trai trưởng của Nguyễn Kim), Nguyễn Hoàng nhận thấy nguy cơ hãm hại của anh rể, Ông cố tìm cách thoát thân bằng sợi dây tình cảm gia đình qua người chị là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm) xin cho mình vào đất Thuận Hóa[1](Thuận Hóa lúc đó bao gồm vùng Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay). Quyết định này đánh dấu mốc lịch sử hết sức quan trong trong quá trình Nam tiến khai phá vùng đất mới của quốc gia Ðại Việt.

Năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được phong là Thải úy Đoan Quận Công giữ chức Trấn thủ xứ Thuận Hoá (sau đảm nhận Tổng trấn 2 xứ Thuận – Quảng), với một quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử lý”.  Nhận được lệnh, bất chấp thời tiết mùa đông giá rét, Ông giông buồm đi ngay, nhằm theo hướng xứ Thuận Hóa tiến vào. Chiến thuyền tiến thẳng vào cửa Việt Yên (Cửa Việt) đóng quân trên bãi cát nổi thuộc xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Nguyễn Hoàng là một nhà quân sự, từng thân chinh ra trận lập được nhiều công lớn với Chúa Trịnh nên không phải ngẫu nhiên mà chọn vùng đất cát này để làm thủ phủ.  Ông đã sớm nhìn thấy vị thế của vùng “đất linh” là nơi hiểm yếu: “…Bên Bắc thì có núi Hoàng Sơn, sông Linh Giang, bên nam thì có núi Hải Vân và núi Bi Sơn, thật là một nơi trời cho để người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gầy dựng cơ nghiệp muôn đời[2]. Lợi thế của vùng đất mới cùng những toan tính tạo dựng cơ nghiệp cho dòng họ Nguyễn về sau, tách khỏi sự thống trị của vua Lê-chúa Trịnh. Do đó, ngay từ lúc mới vào trấn thủ, Nguyễn Hoàng đã thực hiện nhất quán chính sách đức trị, nhưng vẫn ưu tiên binh bị.

 Vùng đất Quảng Trị[3] lúc bấy giờ là vùng “ô châu ác địa”, cư dân với đủ loại hình phức tạp, sẵn sàng nổi dậy chống lại chính quyền sở tại, là địa bàn lý tưởng cho những tay anh hùng thảo dã chọn làm chỗ nương thân để mưu đồ cát cứ. Và hơn thế nữa, họ Trịnh ở Đàng Ngoài cũng có thể tấn công bất cứ lúc nào. Quả thật, đối với vị tổng trấn họ Nguyễn, một hệ thống quân sự vững chắc là cách thức thích hợp nhất và có thể là hữu hiệu nhất để đối phó với tình trạng khó khăn, đứng vững trên vùng đất mà ông đã chọn. Về cơ bản, Quảng Trị là một vùng đất mới, mọi thứ ở đây đều ở trong tình trạng thay đổi liên tục: người dân, làng mạc và dinh phủ. Điều duy nhất có thể nắm được một cách chặt chẽ là quân đội, vì vậy biện pháp hữu hiệu nhất là làm thế nào để người dân đều có ý thức gia nhập vào lực lượng quân đội.

Sau khi đã đặt cơ sở vững vàng ở phía Nam, Nguyễn Hoàng cho đến các chúa Nguyễn kế nghiệp[4] dự tính sẽ bành trướng mạnh mẽ, đồng thời tìm cách ngăn chặn sự tấn công của họ Trịnh ở phía Bắc, vì thế quân đội được chú trọng đặc biệt, khái niệm quân và dân không đồng nhất nhưng lại luôn luôn đi kèm với nhau, “hẳn là sẽ khó khăn đối với chính quyền họ Nguyễn nếu chỉ nói quân mà không có dân hoặc ngược lại vì cả hai gần như là một vậy[5]. Li Tana đã nhận xét rằng: Đàng Trong được tổ chức như một chế độ quân sự, đặc biệt vào thế kỷ XVII. Vua là người lãnh đạo cao nhất của lực lượng vũ trang hay đúng hơn người ta chỉ có thể làm vua với tư cách là tướng tổng chỉ huy quân đội… Cả nước đặt dưới quyền kiểm soát của các quan võ. Từ “Dinh” có nghĩa là đạo quân đã được sử dụng để gọi một đơn vị hành chính[6]. Lực lượng quân đội Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII (thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên) “chỉ có khoảng ba vạn quân”[7] nhưng đến thời Nguyễn Phúc Tần, vào khoảng năm 1653 quân số ấy đã tăng lên đến hơn “20 vạn người[8].

1. Về cơ cấu tổ chức quân đội:

Quân đội thời các chúa Nguyễn bao gồm ba loại: quân túc vệ, quân chính quy và quân địa phương. Quân túc vệ hay còn gọi là thân quân, chuyên bảo vệ cung điện của chúa và hộ vệ chúa. Quân túc vệ gồm hai vệ: tả tiệp và hữu tiệp đặt ở hai bên tả, hữu dinh chúa, mỗi vệ 50 người. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát thì quân túc vệ được gọi là đức lâm quân. Loại quân sĩ này đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối nên các chúa Nguyễn chỉ chọn trong con cháu các võ quan người huyện Tống Sơn (Thanh Hóa) - quê hương của các chúa Nguyễn. Quân chính quy: đây là lực lượng đóng ở dinh và chịu quyền chỉ huy của trấn thủ. Dưới dinh gồm có nhiều cơ, dưới cơ có đội, dưới đội có thuyền. Số đội và số thuyền ở mỗi cơ lại khác nhau. Quân địa phương (hay còn gọi là thổ binh), đây là lực lượng trấn đóng tại các địa phương.

Không phải ngẫu nhiên mà các làng xung quanh dinh chúa ở Quảng Trị lại có tên là Tiền Kiên, Hậu Kiên, Tả Kiên, Trung Kiên, Hữu Kiên. Sách Việt sử yếu viết rằng: “Binh chế Nam Triều gồm có 5 cơ: Trung, Hiền, Hậu, Tả, Hữu[9]. Như vậy, khi vào Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã cho các đơn vị quân đội đến đồn trú ở các làng lân cận xung quanh dinh chúa và dùng trên các đơn vị ấy để gọi những nơi mà họ đóng quân, “đó là gốc của các tên làng Tiền Kiên, Hậu Kiên, Tả Kiên, Trung Kiên, Hữu Kiên[10]. Theo Lê Qúy Đôn thì ở Dinh Cát có cơ Trung Kiên, với các thuyền Nhung súng, Thăng trụ, mỗi thuyền có 50 người, Kiên đạo nhất, Kiên đạo nhị (mỗi thuyền có 49 người). Tả súng, Tiền súng (mỗi thuyền có 45 người), cộng 6 thuyền là 288 người. Có các cơ Tiền Kiên, Hậu Kiên, Tả Kiên, Trung Kiên, Hữu Kiên, mỗi cơ đều có 5 thuyền và mối thuyền có 45 người, cộng lại có 225 người và và tất cả 20 thuyền cộng lại có 900 người. Bên cạnh đó, còn có đội thắng thủy, thuộc về đấy là hai thuyền Uy nhất và Minh nhị, mỗi thuyền có 55 người, vậy hai thuyền là 110 người. Ngoài ra còn có kiên tượng, quản mục và quân bắn gồm 30 người “các chiến binh trên đây cộng là 1.328 người”[11]Ngoài số binh trên còn có một bộ phận chiếm số lượng không nhỏ là binh lính làm các công việc như: cắt cỏ ngựa, giữ từ đường, phủ, kho, vườn, thợ tàu…

Nhân tố quyết định nhất cho một quân đội hùng mạnh chính là ở con người, hay nói cách khác đó là ở binh sĩ. Ý thức được điều này, các chúa Nguyễn thường xuyên tăng cường rèn luyện quân đội của mình nhằm mục đích đào tạo một quân đội đông về số lượng và mạnh về chất lượng. Bắt đầu từ việc tuyển quân, bắt lính. Việc tuyển quân, bắt lính cũng có quy định chặt chẽ, những quy định này được đặt ra từ thời Hồng Đức và các đời chúa sau cùng làm theo. Cứ 6 năm một lần tuyển duyệt lớn gọi là đại điển, ba năm một lần tuyển duyệt nhỏ gọi là tiểu điển. Đến năm tuyển duyệt thì tháng giêng sai các tổng, xã làm sổ hộ tịch, để riêng dân chánh hộ là dân chánh quan ở xã, và dân khách hộ là dân ngụ cư rồi chia các hạng:

1. Tráng khỏe mạnh để sung vào quân đội

2. Quân là hạng người được ở nhà làm ruộng, đến khi quân ngũ còn thiếu thì theo thứ tự trong sổ mà lấy bổ sung

3. Dân là người từ 18 tuổi trở lên không được chọn làm binh lính

4. Lão là người cao tuổi

5. Tật là người tàn tật

6. Cố là người làm thuê

7. Cùng là người nghèo túng

8. Đào là người bỏ trốn

Đặc biệt theo quy định, những người đã định cư ba năm trở lên mới được đi lính. Người trên 50 tuổi, thấp bé, cô độc thì được miễn đi lính. Nhà hai con trai chỉ lấy một người, người kia ở nhà lo phụng dưỡng cha mẹ. Con trai một thì không đi lính [12]. Song song với việc tuyển quân và bắt lính, các chúa Nguyễn rất chú trọng đến rèn luyện cho bính sĩ, bằng cuộc thao diễn từ thủy binh, tượng binh… cho đến kỵ binh, pháo binh. Với cách thức diễn tập phong phú như bắn cung, bắn súng, thi ngựa, diễn voi, thao diễn thủy binh, bộ binh… quân đội của chúa Nguyễn ngày càng tinh nhuệ. Vì vậy, trong chiến đấu, quân đội đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn các binh chủng tạo nên sức mạnh tổng hợp.

Về trang bị vũ khí quân đội: Dưới thời Nguyễn Hoàng cũng như các đời chúa kế tiếp, thì ba binh chủng quan trọng nhất là bộ binh, pháo binh, thủy quân và tượng binh. Bộ binh là lực lượng cơ bản, thủy binh: các chúa Nguyễn đẩy mạnh phát triển các loại thuyền chiến. Đến thế kỷ XVII, ở Đàng Trong, với chính sách mở cửa, các chúa Nguyễn đã tận dụng cơ hội đó để mua các chiến thuyền cũng như tiếp cận những kỹ thuật đóng thuyền mới. Thuyền chiến của chính quyền các chúa Nguyễn thời kỳ này được xuất hiện chủ yếu trong các năm chiến tranh, hòa thương Thích Đại Sán đã mô tả một chiến thuyền của Đàng Trong như sau: “Đầu thuyền ngồi một vị quan, đuôi thuyền đứng một người cầm lái, giữa thuyền sáu mươi bốn quân nhơn đứng chèo, giữa khoang thuyền có bốn cọc - nạng sơn son, trên bắc ngang một cây mõ gỗ, một lính ngồi gỏ mõ làm nhịp cho những người đứng chèo,…, miệng hò - lơ, chân dậm ván, đều răm rắp theo nhịp mõ chẳng chút đơn sai… Thuyền dài mà hẹp như hình long - chu, mũi rất cao, đuôi thuyền sơn đỏ… [13].

Dù chưa thống nhất về số lượng qua sự mô tả của các học giả nghiên cứu, nhưng qua sự mô tả của ở một số tài liệu đã cho thấy sự phát triển cũng như sự chú trọng của các chúa Nguyễn đối với binh chủng thủy binh. Trong Trịnh - Nguyễn diễn chí, hay trong Việt sử xứ Đàng Trong, có đoạn nói đến chúa Tiên sai con trai thứ 6 đi đánh giặc Hiển Qúy ở ngoài biển Cửa Việt (1585) thì thấy có sử dụng thuyền chiến lớn và súng “đoàn thuyền như một con trường xà đuổi tới, tiếng súng đồng loạt phát nổ, vang động đất trời, hai tàu giặc bị bắn vỡ[14]. Chi tiết này chứng tỏ vào thời điểm đó (1585) thuyền chiến và trọng pháo đã là thế mạnh của quân đội chúa Nguyễn. Riêng về tượng cơ có tầm quan trọng lớn đối với quân đội Đàng Trong thời kỳ này. Cadiere đã gợi lại nhiều luyến tiếc về truyền thống sử dụng tượng binh, thì ông lên một danh sách các địa danh có dính líu đến đạo quân voi. Những cái tên địa danh như Cồn Voi, Tàu Tượng… nằm rãi rác quanh vùng dinh Ái Tử, Dinh Cát, Dinh Trà Bát… đã cho thấy tầm quan trọng của đạo quân voi thời kỳ này. Sử dụng tượng binh cũng chính là tận dụng lợi thế của vùng Thuận Quảng nói chung và Quảng Trị nói riêng lúc bấy giờ với nguồn voi dồi dào. Cùng với việc rèn luyện, trang bị vũ khí, các chúa Nguyễn còn ban hành chính sách thưởng phạt nghiêm minh đối với những người có công và có tội, chính sách thưởng phạt được áp dụng rộng rãi trong quân đội, từ tướng lĩnh cho đến binh sĩ. Có thể khẳng định, để có được sự trung thành cũng như phát huy tối đa sức chiến đấu của binh sĩ thì chính sách thưởng phạt đóng vai trò quyết định.

Quân số đông, tinh thần chiến đấu tốt và trang bị vũ khí vào loại “tân tiến” thời bấy giờ. Lực lượng quân đội hùng mạnh này đã giúp cho chúa Tiên và các vị chúa về sau giành được chiến thắng trong các cuộc đọ sức, dẹp yên được vùng Thuận - Quảng, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc mở mang, phát triển kinh tế.

 2. Tổ chức quân đội đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển vùng đất Quảng Trị dưới thời các chúa Nguyễn

Từ thủ phủ Ái Tử (1558 - 1570), sau đó chuyển đến Trà Bát (1570 - 1600) hay Dinh Cát (1600 - 1626) thì cả ba thủ phủ này đều nằm bên bờ tây sông Thạch Hãn, hướng mặt về phía trong (đông-nam, nam), biểu hiện rất rõ xu hướng “Nam tiến”. Việc chọn vị trí để đóng thủ phủ cũng thể hiện rất rõ tính chất quân sự. Qua sơ đồ cho thấy cả ba dinh đều có sông bao bọc xung quanh làm hàng rào tự nhiên che chắn, đó là hệ thống sông Thạch Hãn, Ái Tử và Vĩnh Phước. Hệ thống sông này được bố trí lực lượng quân đội phòng thủ giữ những vị trí then chốt: cơ Tả Kiên và Tiền Kiên chốt giữ khu vực “cổ chai” giữa sông Thạch Hãn và sông Ái Tử. Ba cơ còn lại là Trung Kiên, Hữu Kiên, Hậu Kiên kiểm soát sông Vĩnh Định và phía thượng lưu sông Thạch Hãn. Từ Dinh Ái Tử, tọa lạc ở tả ngạn của sông Thạch Hãn, về mặt chiến lược quân sự, đoạn sông uốn công này là một thế phòng thủ đường thủy đắc địa, có lợi cho cả ba mặt Bắc, Đông, Nam của doanh trại, còn phía tây có một chi lưu bao bọc đó là sông Ái Tử, nhân dân địa phương gọi là Rào Ái, là tâm điểm giữa các vùng thời kỳ này. Từ đây quan trấn thủ Nguyễn Hoàng và sau này các chúa Nguyễn mới có thể kiểm soát vùng đất cũng như khống chế con đường bộ chính từ Bắc vào Nam - đường Thiên lý - vừa khống chế tuyến đường thủy quan trọng từ biển vào khu vực này và từ đây vào phía trong (bằng sông Vĩnh Định). Chính sự củng cố về quân sự này đã tạo tiền đề cho sự phát triển vùng đất Quảng Trị cả về phương diện chính trị, đặc biệt là phương diện kinh tế trong thời kỳ này.

Trước hết, hệ thống bao bọc xung quanh thủ phủ vừa là hàng rào che chắn, vừa là điều kiện cho lưu thông cả về đường thủy lẫn tuyến đường bộ một cách dễ dàng.

Đối với nền kinh tế, các chúa Nguyễn chú trọng phát triển nền nông nghiệp nhằm ổn định đời sống nhân dân, đảm bảo đầy đủ binh lương để đối phó với các cuộc tấn công của thù trong giặc ngoài. Bên cạnh đó, các ngành thủ công nghiệp có nhiều bước chuyển biến tích cực, nhiều ngành nghề mới ra đời, nhằm phục vụ nhu cầu của phủ chúa và các yêu cầu chung của xã hội, đặc biệt là để đáp ứng cho việc phát triển thương nghiệp và phục vụ chiến tranh.

Lực lượng quân đội lớn mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho các chúa Nguyễn áp dụng một chính sách hữu hiệu để khai thác các vùng đất mới hay những vùng rừng núi, đó là sử dụng tù binh bắt được qua các lần giao tranh với kẻ thù. Năm 1572, sau khi đánh bại đội quân nhà Mạc do tướng Lập Bạo chỉ huy, Nguyễn Hoàng đã đưa hàng ngàn tù binh lên khai phá vùng đất đỏ Cồn Tiên, lập thành 36 phường mới của tổng Bái Ân. Về sau này, khi mở rộng đất Quảng Nam, các chúa Nguyễn vẫn tiếp tục sử dụng chính sách trên một cách hữu hiệu. Nhờ chính sách khai khẩn tích cực đó mà đất đai canh tác không ngừng được mở rộng. Theo ghi chép của Lê Quý Đôn, đến năm Giáp Ngọ (1774), 9 huyện của Thuận Hóa đã có đến hơn 265.507 mẫu ruộng, dân số cũng trở nên đông đúc: “Xứ Thuận - Hóa sau hai trăm năm sinh tụ, làng mạc liền nhau, theo sổ đinh năm Quý Tỵ (1773), 9 huyện châu, 862 xã thôn phường, số người cộng là 126.857 người, nộp các thứ tiền sai dư đến 153.600 quan 5 tiền”[15]. Có thể thấy, việc chú trọng phát triển quân sự không chỉ dẹp yên bờ cỏi mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý dân cư cũng như phát triển kinh tế, quyết định đến sự tồn vong, thành bại của một triều đại, cũng như xây dựng và phát triển vùng đất này, nơi dừng chân đầu tiên trên trong sự nghiệp mở cõi Đàng Trong của các chúa Nguyễn.

Như vậy, là điểm dừng chân đầu tiên trong quá trình Nam tiến, Quảng Trị được chọn là nơi xây dựng dinh phủ, với lực lượng quân đội hùng mạnh và sự phát triển của các thủ phủ, Quảng Trị là trung tâm đầu não của cả xứ sở trong một thời gian dài. Chính điều đó đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của vùng đất này, từ tổ chức chính quyền đến các vấn đề về kinh tế, văn hóa và xã hội. Bởi vậy, ngay từ khi thủ phủ đang còn ở quy mô nhỏ, mang đậm tính chất quân sự thì chúng vẫn có tác động quyết định đến sự phát triển chung của Đàng Trong bằng những mệnh lệnh và chính sách cụ thể phát ra từ đây. Bằng những chính sách tiến bộ về thu phục nhân tâm, phát triển kinh tế, hoàn thiện dần tổ chức hành chính để quản lý… đã xây dựng vùng đất này thành trung tâm ở Đàng Trong hồi thế kỷ XVI - XVIII, mở rộng và hoàn thiện bước chân Nam tiến, góp phần làm vẻ vang hơn cho lịch sử nước nhà.

             Trần Thu Hương- Khoa Xây dựng Đảng

 



[1] Ban đầu Nguyễn Hoàng vào đây chỉ với ý định bảo toàn mạng sống, nhưng khi thấy Trịnh Kiểm ngày càng lấn át quyền vua, khiến vua Lê chỉ còn là hư vị, Nguyễn Hoàng quyết chí tách khỏi Đàng Ngoài, hùng cứ một phương.

[2] Quốc Sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục tiền biên, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[3] Địa bàn Quảng Trị thời các chúa Nguyễn bao gồm ba huyện là: Hải Lăng, Đăng Xương và Minh Linh (cùng hai châu Sa Bôi và Thuận Bình ở miền núi).

[4] Từ chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) trấn nhậm Thuận Hóa - 1558 cho đến chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777).

[5]  Li Tana, (1999), Lịch sử kinh tế - xã hội Đàng Trong thời các chúa Nguyễn thế kỷ XVII - XVIII, Luận án tiến sỹ Đại học quốc gia Australia, 9/1992, Bản dịch của Nguyễn Nghị, Nxb Trẻ, tr.58.

[6]  Đào Thị Hải Lý (2009), Quan hệ thương mại Đàng Trong với Trung Quốc và Nhật Bản, Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Huế, Huế, tr.58

[7]. Lê Đình Cai (1971), Ba mươi tư năm cầm quyền của chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), Đăng Trình, Sài Gòn, trang 37.

[8] Lê Đình Cai (1971), tài liệu đã dẫn, trang 37

[9]. Hoàng Cao Khải (1971), Việt sử yếu, bản dịch Lê Xuân Giáo, Tủ sách Ủy ban dịch thuật quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, tr.45.

[10]A. Laborde (2001), Tỉnh Quảng Trị, Những người bạn cố đô Huế B.A.V.H, tập VII, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.59.

[11] Lê Qúy Đôn (1977) Phủ biên tạp lục, (toàn tập, tập I), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.188-189..

[12] L. Cadière, Bức tường Đồng Hới (Le Mur Donghoi), B.E.F.E.O, VI -1906, PP: 87-254, bản dịch Thúy Vi – Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, Huế, tr.375.

[13] Thích Đại Sán (1963), Hải Ngoại ký sự, Bản dịch của Viện Đại học Huế, Quyển II, tr.132.

[14] Nguyễn Khoa Chiêm (1994), Nam triều công nghiệp diễn chí (Trịnh - Nguyễn diễn chí), Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga dịch, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội, tr.412.

[15] Lê Qúy Đôn (1977) Phủ biên tạp lục, (toàn tập, tập I), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.136.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday314
mod_vvisit_counterYesterday281
mod_vvisit_counterThis week1610
mod_vvisit_counterLast week1804
mod_vvisit_counterThis month4238
mod_vvisit_counterLast month7447
mod_vvisit_counterAll194681
Online (20 minutes ago): 13
Your IP: 54.167.18.170
,
Now is: 2018-11-15 20:10