Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về “học đi đôi với hành” ở Trường Chính trị tỉnh Kon Tum

Tư tưởng giáo dục “học đi đôi với hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng trong kho tàng lý luận về giáo dục; “học đi đôi với hành” là mục tiêu, nguyên lý, phương pháp, phương châm dạy và học của nền giáo dục nước nhà. Tư tưởng ấy hình thành trong quá trình hoạt động cách mạng của Người và Người thường xuyên đề cập từ năm 1945 đến khi Người vĩnh biệt chúng ta. “Học đi đôi với hành” được Đảng ta chính thức khẳng định là một trong những phương châm của nền giáo dục nước nhà từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng lao động Việt Nam năm 1960: “ Công tác giáo dục phải phục vụ nhiệm vụ và đường lối cách mạng của Đảng, phải nắm vững phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội ”[1]

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, có hơn 592 lần Người nhắc đến “giáo dục”, 159 lần nhắc đến “đào tạo”, trên 190 lần nhắc đến “trường học”, gần 100 lần nhắc đến “đại học”, 92 lần nhắc đến “trường học, giáo sư”, 81 lần nhắc đến “giáo viên”, 80 lần nhắc đến “thầy giáo”, khoảng 145 lần nhắc đến “sinh viên” và đến 225 lần nhắc đến “học sinh”... [2]. Theo quan điểm của Người, “học” là một hoạt động nhận thức, là quá trình tiếp thụ tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, các phẩm chất văn hoá - đạo đức… một cách tích cực, toàn diện và thường xuyên của mỗi người. Tính tích cực của việc học thể hiện ở chỗ học không chỉ để hiểu biết, không dừng lại ở hiểu biết mà thông qua học tập mỗi người trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng cần thiết làm hình thành nhân cách, năng lực phù hợp với yêu cầu của hoạt động thực tiễn. Học là quyền lợi, là trách nhiệm của mỗi người dân, Bác viết: “Học” trước hết là quyền lợi và bổn phận của mỗi người dân Việt Nam “ mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”[3]. Vì vậy, học bao giờ cũng gắn với những nhu cầu, mục đích cụ thể nhằm “ cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình, cải tạo con em và giúp vào cải tạo xã hội”. Từ nhu cầu, mục đích của việc học đã vạch ra cho mỗi người phương hướng, nội dung, thái độ, phương pháp học tập. Về động cơ học tập, Người vạch rõ: “ Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”[4], “ Mục đích học là để làm kinh tế, chính trị, văn hoá đều tiến bộ, các dân tộc đều đoàn kết… Để xây dựng chủ nghĩa xã hội ”[5] … đó là mục tiêu cách mạng cao cả của việc học tập dưới mái trường XHCN.

 

“Hành” tức là thực hành, là làm việc. “Hành” là con đường duy nhất, hiệu quả nhất của học tập. Nội dung “hành” trong tư tưởng của Người còn là sự vận dụng những điều đã học nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ngay trong nội dung “học” hàm chứa ý nghĩa “hành”, đây là một biểu hiện về tính toàn diện của việc học. Nếu coi “học” là việc tiếp thụ tri thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, thì “hành” là sự vận dụng những tri thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn để giải quyết bài tập, thực hiện có hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao, vận dụng vào hoạt lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người. “Hành” cao cả nhất là hành động cách mạng nhằm cải tạo xã hội, có tác dụng hình thành con người với tư tưởng, tình cảm cao cả và hành vi đẹp đẽ, góp phần vào sự nghiệp vĩ đại của tập thể, cộng đồng dân tộc. Muốn hành động cách mạng luôn đúng đắn thì “ khi trở về làm việc, cần phải áp dụng những điều đã học cộng với kinh nghiệm của mình vào công việc thực tế một cách khôn khéo, mềm dẻo, phù hợp với hoàn cảnh chứ không nên máy móc”[6], “ lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng… Hoạt động sản xuất là nền tảng của thực hành, nó quyết định tất cả các hoạt động khác… muốn hiểu biết lý luận và phương pháp cách mạng, phải thực hành tham gia cách mạng…”[7] … “ Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải biết kết hợp với thực hành…”[8]. Bác cũng dạy các thế hệ học sinh rằng: “ Các cháu học sinh không nên học gạo, không nên học vẹt… Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”[9], “ ngoài cách học ở trường, ở lớp, học trên sách, báo, v.v., có một cách học rất tốt ai cũng có thể tham gia hằng ngày. Đó là học tập ngay trong sản xuất, học tập những người, những tổ, những đơn vị tiên tiến...”[10]. Trong Lời phát biểu tại lễ tốt nghiệp khóa học thứ tư Trường Quân chính Việt Nam, Bác nói: “ các em sẽ phải vừa làm vừa học, nghiên cứu không những trong sách vở mà ngay trong những công tác của mình”[11]. Trong Bài nói chuyện tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ đảng, dân, chính các cơ quan trung ương, ngày 9/6/1953, Bác nói: … “ Muốn tiến bộ mãi thì phải học tập… các cô chú đã học là cốt để thực hành. Từ nay cán bộ ta phải ghi nhớ và phải quyết tâm thực hành những điều đã học ”[12]. Đối với cán bộ, đảng viên Bác nhấn mạnh cần phải “ Tích cực học tập. Phải thực hiện lời dạy của Lênin là học, học nữa, học mãi. Học phải đi đôi với hành. Học để hành ngày càng tốt hơn”, “Học tập làm cho mỗi đảng viên nâng cao quyết tâm phấn đấu suốt đời cho lý tưởng cộng sản, biến quyết tâm đó thành hành động thực tế trong lao động sản xuất, trong chiến đấu và đời sống hằng ngày”. … “ Phương châm, phương pháp học tập là lý luận liên hệ với thực tế. Học xong, về xí nghiệp, về hợp tác xã, về cơ quan… Phải biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”[13]

Với tư tưởng nêu trên Bác đã chỉ cho chúng ta thấy rằng việc “hành” là mục tiêu, động lực của “học”, “hành” vừa là môi trường trải nghiệm để học tập hiệu quả nhất, vừa là kết tinh, là biểu hiện bên ngoài của việc học. Cũng với tư tưởng như vậy, Albert Einstein đã từng nói “Chỉ có trải nghiệm mới là hiểu biết, còn tất cả các thứ khác chỉ là thông tin”, các nhà khoa học giáo dục thì khẳng định “người học có thể nhớ đến 60%  tri thức với những gì mà họ trải nghiệm thông qua phát biểu ý kiến, đóng kịch, sắm vai, thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp dụng các điều đã học…”

Dạy - học không phải là một quá trình truyền đạt - tiếp thụ tri thức một cách thụ động, một chiều mà ở đó diễn ra sự tương tác hai chiều trong dạy - học; học - dạy. “Học đi đôi với hành” là nguyên lý, phương pháp trong dạy và học, Người nhắc nhở phải hết sức tránh “giáo điều”, “máy móc”, Người nói “đi học thì phải có mở lòng, tức phải biết học để làm gì, học như thế nào… trong khi các cô, các chú nghiên cứu tài liệu, không phải học thuộc lòng. Dù có thuộc từ đầu chí cuối mà không biết cách áp dụng vào thực tế thì thuộc cũng vô ích, đó là giáo điều”[14],  “ Cán bộ trong khi học tập nghiên cứu như nghiên cứu về xã hội, con người và sự vật thì phải xem xét toàn diện, xem quá khứ, nhất là xem hiện tại để hiểu biết và suy đoán tương lai. Có thế mới nhận định tình hình, mới nhận xét sự việc xảy ra được đúng đắn”[15]… “ Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”[16].

Người nêu yêu cầu việc dạy và học phải đảm bảo tính toàn diện về đạo đức, năng lực “ Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng[17]. Chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đào tạo như thế nào trước hết phụ thuộc vào quá trình tương tác giữa giáo viên và học viên, Bác khẳng định: “Học trò tốt hay xấu đều do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu… phải luôn luôn đặt câu hỏi: Dạy ai?... Dạy để làm gì?... lúc đó mới tìm cách dạy… quần chúng công nhân, nông dân, trí thức có nhiều kinh nghiệm. Giáo viên nên khêu gợi những kinh nghiệm để tìm cách dạy tốt”[18]. Theo đó, trước và trong khi giảng dạy, mỗi giáo viên, giảng viên cần nắm rõ trạng thái tâm lý, đạo đức, năng lực chung của người học từ đó có sự lựa chọn phương pháp, nội dung, vấn đề mang tính trọng tâm, trọng điểm để trao đổi, gợi mở hướng nghiên cứu. Bên cạnh đó mỗi giảng viên cũng hết sức chú trọng việc nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội, cập nhật thông tin kịp thời so với những vận động, thay đổi nhanh chóng của đời sống và sự cập nhật, bổ sung không ngừng của chính sách, pháp luật trong giai đoạn hiện nay.

Vận dụng tư tưởng của Người, công tác đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Kon Tum đã đạt được những kết quả nhất định. Lực lượng giảng viên cơ hữu tham gia công tác dạy hiện nay là 23 đồng chí, phần lớn giảng viên đều được đào tạo cơ bản về chuyên môn, lý luận chính trị, được bố trí giảng dạy đúng chuyên ngành đào tạo, có thâm niên trong nghề. Việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học luôn được chú trọng, đa số giảng viên đã được bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp giảng dạy mới, các giảng viên tích cực tìm tòi, học tập và vận dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, lấy học viên làm trung tâm, qua đó nâng cao hiệu qủa truyền thụ kiến thức lý luận chính trị, kỹ năng, nghiệp vụ công tác. Trong chương trình học, học viên được bố trí thời gian nghiên cứu, thảo luận, làm bài tập tình huống. Phần lớn học viên được đào tạo, bồi dưỡng tại Trường khi trở về đơn vị phát huy tốt kỹ năng kiến thức được học vào thực tiễn công tác. Nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đúng kế hoạch, trong năm Trường đã và đang thực hiện được 19 lớp đào tạo, bồi dưỡng với tổng số 1.553 học viên; trong đó đào tạo có 07 lớp Trung cấp LLCT-HC, tổng số 614 học viên, bồi dưỡng các loại hình là 12 lớp với tổng số 939 học viên.

Tuy nhiên, trong dạy và học cũng còn có những khó khăn, khuyết điểm nhất định. Một số học viên chưa xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn nên chưa thực sự tích cực trong học tập, thảo luận. Sự đa dạng về trình độ học vấn, kinh nghiệm, lĩnh vực công tác của người học dẫn đến khả năng tiếp thụ kiến thức của mỗi học viên có những chênh lệch gây khó khăn trong việc vận dụng các phương pháp giảng dạy mới. Nội dung chương trình còn nặng về lý luận, còn có sự trùng lặp một số nội dung giữa các phần học. Phần nghiệp vụ được cơ cấu trong chương trình còn đơn điệu, một số bài còn mang tính chung chung, chưa đi sâu đáp ứng nhu cầu phục vụ công tác của cán bộ cơ sở. Bên cạnh đó, một số bài giảng có kết cấu nội dung với thời gian lên lớp chưa phù hợp gây khó khăn cho giảng viên trong giảng dạy. Một số môn học, phần học không có giảng viên chuyên ngành, do hạn chế về phương pháp giảng dạy, kinh nghiệm thực tiễn còn thiếu nên việc vận dụng phương pháp giảng dạy tích cực còn nhiều bất cập, chưa giải quyết triệt để nhu cầu tiếp thụ tri thức, kinh nghiệm thực tiễn vào vận dụng thực hiện nhiệm vụ được giao của học viên; số lượng học viên ở mỗi lớp thường 50 đến 70 học viên, cùng với cơ sở vật chất nhà trường thiếu thốn gây trở ngại nhất định trong việc sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực. Những khó khăn về kinh phí đào tạo, khung thời gian học tập… cũng là khó khăn của trường trong  việc tổ chức các hoạt động thực hành, nghiên cứu thực tế cho học viên.

Từ những nhận thức nêu trên thiết nghĩ, trong công tác đào tạo bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Kon Tum cần thực hiện tốt hơn các vấn đề sau:

Thứ nhất: nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông qua việc rà soát, đánh giá, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng, tập huấn giảng viên; tăng cường các hoạt động thao giảng, nghiên cứu thực tế của giảng viên; thực hiện chế độ luân chuyển vị trí công tác ngoài đơn vị để giảng viên cọ xát thực tiễn, nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy.

Thứ hai: Rà soát, đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; vận dụng phương châm “đào tạo cơ bản, bồi dưỡng theo chức danh”, phân loại đối tượng đào tạo, bồi dưỡng tạo nên tính đồng nhất tương đối về đặc điểm tâm lý, năng lực, nhu cầu học tập của học viên tạo điều kiện cho việc vận dụng các phương pháp giảng dạy có hiệu quả gắn với mỗi nhóm đối tượng cụ thể.

Thứ ba: Mỗi học viên xây dựng cho mình hệ thống động cơ, thái độ đúng đắn trong việc học đi đôi với hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ tư: Mỗi giảng viên chú trọng nghiên cứu, học tập vận dụng tốt các kỹ năng, phương pháp giảng dạy tích cực kết hợp sử dụng thành thạo công cụ giảng dạy hiện đại như máy chiếu, mô hình, biểu đồ…  

Thứ năm: Các cơ quan biên soạn giáo trình cần cơ cấu lại nội dung, thời gian phù hợp, tăng cường các hoạt động thảo luận, thực hành, nghiên cứu thực tế.

Tư tưởng giáo dục “học đi đôi với hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng trong kho tàng lý luận về giáo dục; học đi đôi với hành là mục tiêu, nguyên lý, phương pháp, phương châm dạy và học của nền giáo dục nước nhà. Mỗi giảng viên, học viên cần có nhận thức, thái độ đúng đắn trong dạy và học, coi việc học tập và làm theo tư tưởng “học đi đôi với hành” là con đường duy nhất đúng để việc dạy và học của mỗi cá nhân có hiệu quả hơn, quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Đó cũng là cách thức làm cho hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng “học đi đôi với hành” của Người luôn sống mãi trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo của chúng ta.

                                                                                                                                                                                                                                     A Phúc – Khoa Dân Vận



[1] Nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển kinh tế quốc dân (1961-1965). Báo cáo bổ sung tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III do đồng chí Nguyễn Duy Trinh trình bày, ngày 7-9-1960

[2] Hoàng Anh TuấnTừ quan điểm Hồ Chí Minh về con người toàn diện đến phát triển giáo dục nước ta, Báo Giáo dục và Thời đại (http://www.gdtd.vn ngày 20/11/2012)

[3] Chống nạn thất học (đăng trên báo cứu quốc số 58, ngày 4-10-1945), Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, tr.40 NXB CTQG, H.2011

[4] Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tháng 9/1949, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.208, NXB CTQG, H.2011

[5] Bài nói chuyện với Cán bộ và Học sinh Trường sư phạm miền núi Nghệ An, nói ngày 9/12/1961, Hồ Chí Minh toàn tập, t.13, tr.269-270, NXB CTQG, H.2011

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.179-181, NXB CTQG, H.2011

[7]Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.120-130, NXB CTQG, H.2011

[8] Bài nói tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II, nói ngày 7/5/1958: Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.399-400, NXB CTQG, H.2011

[9] Hồ Chí Minh toàn tập, t.14, tr.400-406, NXB CTQG, H.2011

[10] Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng, đăng trên báo Nhân dân, số 2187, ngày 14/3/1960, Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.527-528, NXB CTQG, H.2011

[11] Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, tr.38 NXB CTQG, H.2011

[12] Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.142-145, NXB CTQG, H.2011

[13] Hồ Chí Minh toàn tập, t.15, tr.112, NXB CTQG, H.2011

[14] Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.492-495, NXB CTQG, H.2011

[15] Nói chuyện tại lớp nghiên cứu Chính trị Trường Đại học Nhân dân, ngày 10-1-1959, đăng trên Báo nhân dân, số 1767 ngày 14/1/1959, Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.15, NXB CTQG, H.2011

[16] Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.467-468, NXB CTQG, H.2011

[17] Bài nói chuyện tại Đại học Sư phạm Hà nội, ngày 21-10-1964, Hồ Chí Minh toàn tập, t.14, tr.400-406, NXB CTQG, H.2011

[18] Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.266-271, NXB CTQG, H.2011

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday98
mod_vvisit_counterYesterday665
mod_vvisit_counterThis week1996
mod_vvisit_counterLast week4200
mod_vvisit_counterThis month9713
mod_vvisit_counterLast month18885
mod_vvisit_counterAll284382
Online (20 minutes ago): 19
Your IP: 54.172.234.236
,
Now is: 2019-07-17 04:03