Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Những khó khăn trong triển khai thực hiện đường lối chiến lược mới của Đảng ta thời kỳ 1936 -1939

Sự kiện Adolf Hitler, thủ lĩnh của Đảng quốc xã Đức, lên nắm chính quyền tại Đức vào ngày 30 tháng 1 năm 1933 được ghi nhận như là một mốc lịch sử quan trọng, mở đầu cho sự hình thành chế độ phát xít hung hãn nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Ngay sau khi lên nắm quyền ở Đức, Hitler lập tức thủ tiêu chế độ Đại nghị, thiết lập chế độ thống trị Quân phiệt, công khai tuyên bố các chính sách vị chủng phản động, ra sức kêu gào chiến tranh. Cùng thời gian đó, xu thế Quân phiệt đã chiếm ưu thế áp đảo trong chính giới Nhật Bản.

 Từ sau khi khẳng định được vai trò của mình trong thế giới của các cường quốc tư bản, Nhật Bản ra sức chạy đua vũ trang chuẩn bị cho một cuộc xâm lược đại quy mô để xâm chiếm toàn cõi Á Đông. Tại Italia, cuộc bầu cử dối trá năm 1924 đã đưa Mussolini và phe đảng lên vị trí tối cao, thâu tóm mọi quyền hành trong quốc hội. Tháng 1 năm 1925, Mussolini tuyên bố thực hành nền thống trị độc tài phát-xít, thẳng tay đàn áp, thảm sát, thủ tiêu những người chống đối, hủy bỏ mọi quyền tự do dân chủcủa người dân. Để cố kết với nhau thành một liên minh hiếu chiến, tháng 10 và tháng 11 năm 1936, Đức, Nhật và Italia đã ký kết hiệp ước liên minh chống Quốc tế Cộng sản (Antikominternpakt). Trục phát xít thế giới Berlin - Roma - Tokyo đã hình thành, trở thành nguy cơ chiến tranh đe doạ hoà bình và số phận của toàn nhân loại.

Trước những biến động phức tạp đó, Quốc tế Cộng sản quyết định triệu tập đại hội VII (từ ngày 25 tháng 7 tới ngày 20 tháng 8 năm 1935) tại Moskva (Mát-xcơ-va) (Liên Xô) với sự tham gia của 65 đoàn đại biểu đại diện cho các Đảng cộng sản đến từ khắp các châu lục [1]. Đại hội chủ trương chuyển hướng chiến lược, lập mặt trận dân chủ, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chủ nghĩa phát- xít, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hòa bình. Chủ trương này đã ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các Đảng cộng sản trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Ở Việt Nam, kể từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập vào đầu năm 1930, mặc dù phải hoạt động bí mật, Đảng đã nhiều lần tổ chức các đợt tuyên truyền chống chiến tranh thế giới trong các tầng lớp quần chúng, nhất là vào các dịp kỷ niệm ngày thế giới chống chiến tranh hằng năm (1-8). Tuy nhiên, ngoài việc cảnh báo về nguy cơ chiến tranh và lên án cuộc chạy đua vũ trang, chuẩn bị chiến tranh của các nước đế quốc, cho tới trước tháng 7 năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương chưa thực sự chú tâm phân tích đầy đủ về nguy cơ chiến tranh thế giới, và chưa bao giờ coi việc đấu tranh chống lại nguy cơ đó như một mục tiêu tranh đấu quan trọng của cách mạng Việt Nam. Đại hội I của Đảng họp vào tháng 3 năm 1935, tức là hơn hai năm sau khi Hitler lên nắm quyền ở Đức và phong trào phát xít đã phát triển rất mạnh mẽ ở châu Âu, nhưng chiến lược và sách lược của Đảng dường như không có thay đổi nào đáng kể. Đây cũng là tình hình chung của phong trào cộng sản và công nhân thế giới trong thời kỳ đó, dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản.

Trên cơ sở nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, Đảng đã nghiên cứu rất kỹ, tiếp thu, áp dụng chiến lược mới của Quốc tế Cộng sản vào thực tiễn cách mạng Việt Nam với một thái độ cách mạng, khoa học và vô cùng thận trọng. Gần tròn một năm sau Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản, tới tận cuối tháng 7 năm 1936, đường lối mới của Quốc tế Cộng sản mới chính thức được thừa nhận và triển khai tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, họp tại Thượng Hải, do đồng chí Lê Hồng Phong - Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Tổng Bí thư của Đảng chủ trì.

“Ban Trung ương, sau khi nghiên cứu những điều kiện chủ quan và khách quan ở Đông Dương, đã đi đến kết luận rằng việc thành lập Mặt trận dân tộc phản đế không thể trì hoãn thêm một phút…nhằm tập hợp tất cả các đảng, tất cả các tầng lớp quần chúng để tranh đấu đòi những yêu sách tối thiểu”[2].

Để thực hiện kết luận trên, Đảng phải điều chỉnh một loạt vấn đề chiến lược và sách lược trong đường lối lãnh đạo của mình. Về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam với hai mục tiêu cơ bản là “độc lập dân tộcvà người cày có ruộng tuy không thay đổi, nhưng trước mắt phải được cụ thể hoá bằng những khẩu hiệu sách lược cụ thể để tập hợp thật đông đảo tất cả các tầng lớp nhân dân, tập trung ngọn lửa tranh đấu vào một bộ phận phản động nhất trong hàng ngũ thực dân - phong kiến thống trị ở Đông Dương, chống phát xít và ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh thế giới.

Về tổ chức, Ban Trung ương yêu cầu: “Phải thay đổi triệt để các phương pháp tổ chức quần chúng”[3].

Về sách lược đấu tranh, Đảng chủ trương sử dụng kết hợp mọi hình thức đấu tranh chính trị, công khai và bán công khai, bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp, tiến hành trên nhiều địa vực khác nhau. Trong tranh đấu, Đảng sẵn sàng liên minh có nguyên tắc với tất cả các đảng phái, các tổ chức khác nhau, trên cơ sở nhất trí về mục tiêu tranh đấu.

Hội nghị Trung ương tháng 7 năm 1936 đánh dấu sự điều chỉnh chiến lược cách mạng khá toàn diện và triệt để của Đảng Cộng sản Đông Dương. Quyết định này không đơn giản chỉ là sự vận dụng đường lối mới của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Ngược lại, đó là kết quả của cả một quá trình cân nhắc thận trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng và cuối cùng đi đến kết luận hoàn toàn dứt khoát của Đảng. Sự điều chỉnh chiến lược cách mạng này đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng về tư duy lý luận, về bản lĩnh và kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng. Đặt cơ sở vững chắc cho sự phục hồi của Đảng, cho thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn cách mạng trước mắt và cả trong những thời kỳ tiếp theo.

Tuy nhiên, trong điều kiện là một đảng cách mạng non trẻ, hoạt động bí mật tại một nước thuộc địa, lại vừa trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài do bị khủng bố trắng, nên việc triển khai, vận dụng và hoàn thiện bước điều chỉnh chiến lược này hoàn toàn không dễ dàng. Trước mắt, Đảng phải vượt qua hai khó khăn to lớn và phức tạp, đó là tình trạng tan vỡ chưa được khôi phục của hệ thống tổ chức của Đảng  sự bất đồng trong nhận thức, quan điểm, vận dụng đường lối mới của một số bộ phận cán bộ và đảng viên của Đảng.

Sau cao trào cách mạng 1930-1931, được sự ủng hộ to lớn của Quốc tế Cộng sản và phong trào cách mạng quốc tế, bằng tinh thần anh dũng của hàng nghìn đảng viên, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nỗ lực vượt qua thời kỳ khủng bố trắng khốc liệt của chính quyền thực dân Pháp, ra sức tìm cách khôi phục lại hệ thống tổ chức của Đảng ở trong nước. Trải qua bao hy sinh, gian khổ, Đại hội I của Đảng đã đánh dấu thành công lớn trong nỗ lực phục hồi tổ chức đảng; Song, ngay sau Đại hội I, do bị khủng bố nên hệ thống tổ chức của Đảng lại bị tan vỡ gần như hoàn toàn. Trong một báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản vào tháng 7 năm 1936, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng viết: “Năm 1935-1936 là một năm (của nạn) phản bội và khiêu khích trong Đảng: sau Đại hội Đảng, tất cả các tổ chức các xứ đều bị diệt, Ban Trung ương trở thành không tồn tại vì các uỷ viên lần lượt bị bắt” [4]. Trong thực tế, Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng chỉ còn liên lạc được với một số cơ sở Đảng ở trong nước, chủ yếu là một số tỉnh tiếp giáp với biên giới Việt- Trung, ở Lào và một số nơi ở Nam Kỳ. Do tình hình hệ thống tổ chức bị tan vỡ như vậy, trong năm 1935 và nửa đầu năm 1936, Đảng chỉ lãnh đạo được một số ít cuộc đấu tranh của quần chúng, mặc dù “phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng và hầu ở khắp nơi” [5]. Với thái độ mẫu mực, nghiêm túc, Ban chỉ huy ở ngoài thừa nhận: “Vai trò lãnh đạo của Đảng trong các phong trào quần chúng là rất yếu; Đảng chúng tôi theo đuôi quần chúng” [6].

Khó khăn thứ hai trong việc triển khai thực hiện và từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược mới của Đảng gặp phải trở ngại lớn trong thời kỳ này chính là sự bất đồng ý kiến trong nội bộ Đảng, nhất là hàng ngũ cán bộ lãnh đạo cao cấp nhất. Sự bất đồng ý kiến trong nội bộ Đảng là cuộc tranh luận trên tinh thần cộng sản, với trách nhiệm cao nhất trước vận mệnh của Đảng, sự nghiệp cách mạng là hiện tượng hoàn toàn lành mạnh trong sinh hoạt của Đảng.

Trước hết, việc điều chỉnh chiến lược của Đảng, mặc dù đã được nghiên cứu và chuẩn bị khá kỹ càng, nhưng khi triển khai đến các cơ sở, nhiều cán bộ đảng vẫn còn hoài nghi, thắc mắc. Để thống nhất nhận thức của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng, tháng 10 năm 1936 Trung ương Đảng phải soạn và gửi đến tất cả các cơ sở đảng một văn kiện quan trọng, Chung quanh vấn đề chiến sách mới, giải thích cặn kẽ từng điểm trong chiến lược, sách lược mới của Đảng như Chính sách lập Mặt trận nhân dân phản đế, chính sách Mặt trận nhân dân phản đế với chủ nghĩa giai cấp hợp tác; Chính sách Mặt trận nhân dân phản đế với Pháp- Việt đề huề; Mặt trận nhân dân với cuộc dân tộc giải phóng; Mặt trận nhân dân phản đế với vấn đề tranh đấu cho các tổ chức công khai tồn tại; Mặt trận nhân dân phản đế với phương pháp tuyên truyền [7]. Đây là một văn kiện quan trọng, góp phần to lớn vào việc thống nhất ý chí, hành động và củng cố kỷ luật và khối đoàn kết trong Đảng. Cuối văn kiện, Đảng nhấn mạnh câu nói của Stalin “Sự thắng lợi của cuộc cách mạng không bao giờ tự nó tới. Sự thắng lợi ấy cần phải có dự bị và tranh lấy, chỉ có Đảng vô sản cách mạng mới có thể dự bị và tranh lấy được”[8].

Tháng 9 năm 1937, Báo cáo của Hội nghị toàn thể Đảng cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế cộng sản viết: “Vấn đề tổ chức quần chúng, đã nổ ra một cuộc đấu tranh rất quyết liệt giữa Ban chỉ huy ở ngoài và Ban trung ương”. Trong khi Ban chỉ huy ở ngoài tuân theo đường lối mặt  trận mới của Quốc tế cộng sản, và đường lối mới của Quốc tế cộng sản yêu cầu: “Mặt trận dân tộc phản đế phải trở thành tổ chức công khai nhất của đông đảo quần chúng”, “mặt trận dân tộc phản đế bao gồm tất cả các đảng phái và tất cả tầng lớp nhân dân, không phụ thuộc vào dân tộc nào, dù là người Pháp, người Việt, người Lào hay các dân tộc thiểu số khác, miễn là họ nhất trí đấu tranh…” [9], thì Ban Trung ương trong nước lại phản đối việc đưa ra công khai toàn bộ tổ chức của Đảng và một số tổ chức quần chúng khác.

Sau rất nhiều cuộc tranh luận, nhất là vấn đề về tổ chức quần chúng  đầy tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước vận mệnh của sự nghiệp cách mạng, cuối cùng toàn Đảng đã đi tới thống nhất ý chí và hành động trong tất cả những vấn đề lớn. Riêng vấn đề tổ chức quần chúng, đầu năm 1938, Đảng kết luận: kết hợp nhiều hình thức tổ chức, kể cả công khai, bán công khai, hợp pháp và bất hợp pháp, lấy hệ thống lãnh đạo bí mật của Đảng làm chỗ dựa vững chắc chỉ huy toàn bộ phong trào. Đây là một bước trưởng thành mới của Đảng về nhận thức phương pháp cách mạng và hoàn chỉnh thêm quá trình chuyển hướng chiến lược.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ tháng 9 năm 1936 tới cuối tháng 8 năm 1939 một cuộc vận động vì các quyền dân sinh dân chủ vô cùng sôi nổi, phong phú đã diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Mở đầu là cuộc vận động Đông Dương đại hội. Tiếp theo, nhân chuyến đi thanh sát thuộc địa của phái viên Chính phủ Bình dân Pháp Gôđa (Justin Godart), Đảng đã tổ chức và lãnh đạo được một làn sóng biểu tình chính trị, đưa dân nguyện rộng khắp từ Bắc tới Nam. Các hoạt động báo chí công khai, kể cả phong trào Đại hội báo giới, là một lĩnh vực hoạt động mới mà Đảng đã tham gia lãnh đạo và thu được nhiều thắng lợi có ý nghĩa. Cũng trong thời gian này, Đảng còn chỉ đạo cán bộ cơ sở tham gia vào các cuộc vận động tranh cử, … Có thể nói, chưa bao giờ phong trào đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo lại phát triển rầm rộ, phong phú và mạnh mẽ như vậy. Ảnh hưởng và uy tín chính trị của Đảng được củng cố không chỉ trong công nông mà còn trong nhiều tầng lớp nhân dân khác. Tuy nhiên, do việc cân nhắc, điều chỉnh chiến lược và sách lược của Đảng diễn ra khá chậm và quá trình khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng gặp nhiều khó khăn, cho nên trong thời kỳ này việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào quần chúng cũng có những bất cập  Đảng tự nhận “về sự lãnh đạo quần chúng tranh đấu, chúng ta còn nhiều khuyết điểm” [10]. Trong một báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thừa nhận thẳng thắn, rằng cho tới tháng 9 năm 1937 Đảng đã lãnh đạo tất cả các cuộc biểu tình của nông dân, song chỉ có 50% các cuộc đình công [11]. Bên cạnh đó chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa “tả khuynh” làm cho sự lãnh đạo của Đảng gặp rất nhiều trở ngại, Đảng nhận thấy trong công tác tuyên truyền trên lĩnh vực báo chí “các đồng chí ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã có sáng kiến tổ chức các cuộc họp báo chí. Đấy là một hình thức rất tốt để kêu gọi báo chí thuộc mọi khuynh hướng chính trị hành động. Song ở đây cũng vậy, chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa “tả khuynh” rút cục đã làm thất bại mọi cuộc họp” [12].

Mặc dù còn một số hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện đường lối chiến lược và sách lược mới, song rõ ràng, sự điều chỉnh, triển khai và từng bước hoàn thiện chiến lược và sách lược của Đảng trong thời kỳ này về căn bản là đúng đắn và đã đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1936-1939, do đó Đảng đã chớp được thời cơ thuận lợi, lãnh đạo được một cuộc vận động dân chủ to lớn mà không một Đảng cộng sản nào khác ở các xứ thuộc địa và phụ thuộc có thể làm được, thiết thực “tập dượt” về mọi mặt cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: Kỷ nguyên của “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.

                                        Trần Thu Hương - Khoa Xây dựng Đảng 

[1] Đoàn đại biểu của Đảng cộng sản Đông Dương tại đại hội này gồm có: Lê Hồng Phong (Hải An), Nguyễn Thị Minh Khai (Phan Lan) và Hoàng Văn Nọn (Tú Hưu), do đồng chí Lê Hồng Phong làm trưởng đoàn. Trong thời gian này lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có mặt ở Mát-xcơ-va và tham dự đại hội với tư cách là quan sát viên.

 

[2], [3] , [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11] ,[12] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936 – 1939), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 80; 84; 59; 59-60; 59-60; 134; 158; 81; 282; 310, 310. 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday100
mod_vvisit_counterYesterday665
mod_vvisit_counterThis week1998
mod_vvisit_counterLast week4200
mod_vvisit_counterThis month9715
mod_vvisit_counterLast month18885
mod_vvisit_counterAll284384
Online (20 minutes ago): 16
Your IP: 54.172.234.236
,
Now is: 2019-07-17 04:08