Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Thần Shiva qua hình tượng nhân hình trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa

Từ những thế kỷ đầu công nguyên, Champa [[1]] là một trong những vương quốc cổ hình thành sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á. Ngay từ khi mới thành lập, người Chăm đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Bia ký đầu tiên tìm thấy tại Panturankar (Quảng Nam-Đà Nẵng) là bia Bvadravacmani (thế kỷ IV) xác định ảnh hưởng văn hoá và tôn giáo Ấn Độ vào vùng đất này. Tuy nhiên quá trình tiếp thu văn hoá cũng chính là quá trình bản địa hoá (Champa hoá) các yếu tố văn hoá ngoại lai để hình thành nên văn hoá Champa đặc sắc, mang đậm dấu ấn bản địa.

Ấn Độ giáo khi vào Champa đã được bản địa hóa, biến thành một tôn giáo riêng. Trong quan niệm của người Chăm cổ, các vị thần được gọi bằng những tên Chăm như thần Shiva (thần Huỷ Diệt) được gọi là thần Pônintri; thần Vishnu (thần Bảo Tồn) – thần Pôpachơn,...;  Shiva là vị thần đầy uy thế trong lịch sử tôn giáo – tín ngưỡng Chămvà người Chăm có sự ưu ái đặc biệt với thần Shiva:các văn bia cổ khắc chữ Phạn (Sanskrit) trong thung lũng Mỹ Sơn đã tôn Shiva là “chúa tể của muôn loài”, “là cội rễ của nước Champa”. Với 128 bia ký quan trọng của Champa mà hiện nay được biết, thì có đến 92 thuộc Shiva giáo, 5 nói về Brahma, 7 nói về Phật, 3 nói về Vishnu, điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của thần Shiva trong đời sống của người dân vương quốc cổ.  

Thần Shiva (theo nghĩa tiếng Phạn là “tốt lành”) là một trong ba vị thần chính của Ấn Độ giáo. Thần cũng là một trong ba ngôi tối linh (tam vị nhất linh). Từ quan điểm đó phát sinh ra những trường phái khác nhau, có phái thờ thần Shiva, phái thờ thần Vishnu, phái thờ thần Brahma. Ấn Độ giáo thừa nhận Shiva là một vị thần có chức năng hủy diệt, tuy nhiên hủy diệt ở đây phải được hiểu một cách biện chứng linh hoạt, nghĩa là hủy diệt để sáng tạo rồi bảo tồn. Vì vậy, đôi khi Shiva lại mang cả chức năng sáng tạo và bảo tồn. Có thể nói, thần Shiva là một tính cách của phức tạp và mâu thuẫn tồn tại bên nhau một cách hợp lý và thống nhất. Theo thần thoại nguyên thuỷ, hình thức khởi đầu của Shiva là cột lửa hình Linga (dương vật), qua đó hình tượng Shiva được tôn thờ với nhiều hình thức khác nhau: dưới dạng nhân hình (hình người) và dưới dạng biểu tượng Linga hoặc Mukhalinga (siêu nhân). Từ những bức tượng đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ thứ VIII, trãi qua những thăng trầm của lịch sử, thần Shiva là hình tượng hiện diện mạnh mẽ nhất trong đời sống của người dân, đồng thời vai trò của vị thần này được phản ánh đậm nét trong nghệ thuật điêu khắc đá với số lượng khá lớn tượng và phù điêu thể hiện ở nhiều phong cách nghệ thuật, nhiều tư thế khác nhau qua bàn tay tài hoa của những nghệ nhân Champa cổ.
Trong điêu khắc đá Champa, Shiva được thể hiện dưới dáng hình của một nam thần với nước da màu trắng, màu tro hoặc màu yết hầu xanh (vì đã nuốt chất độc của quỷ trong thần thoại Khuấy biển sữa), đầu đội mũ Jata-Mukuta đính nhiều đồ trang sức hoặc kiểu mũ Kirita-Mukuta chạm trổ cầu kỳ. Song cũng có trường hợp thần đeo mặt trăng hình luỡi liềm trên búi tóc.
Thần Shiva có 3 mắt, mắt thứ nhất tượng trưng cho mặt trời (ban ngày), mặt thứ hai tượng trưng cho mặt trăng (ban đêm), mắt thứ ba giữa trán tượng trưng cho thế gian, có thể nhìn vào bên trong, đồng thời có khả năng nhìn thấu và đốt cháy mọi sự vật, đây cũng là một vũ khí lợi hại bởi vì khi chiếu ánh mắt này vào kẻ thù thì kẻ thù bị thiêu rụi. Với con mắt này, Shiva tiêu diệt tất cả các thần thánh và muôn loài trong kỷ nguyên hủy diệt vũ trụ.
Thần Shiva được đính trên đầu một mảnh trăng lưỡi liềm, thần có  mái tóc cuộn sóng tượng trưng cho dòng chảy của sông Hằng (thần thoại Ấn Độ cho rằng: nguyên dòng sông Hằng vốn chảy ở trên trời nhưng nhờ Shiva điều tiết cho chảy xuống trần gian để rửa sạch tội lỗi cho loài người); hình trăng lưỡi liềm trên búi tóc của Shiva là biểu tượng của vật lấy từ trong cuộc “Khuấy Biển Sữa” giữa các thần và loài quỉ để tìm thuốc trường sinh. Thần đeo chiếc vòng ở cổ được kết bằng các đầu lâu và có ba con rắn quấn quanh người, một con rắn quấn quanh cổ và vai, một con quấn quanh các bện tóc và giương đầu lên phía trên, một con làm thành sợi dây đeo thể hiện quyền uy. Vũ khí của thần Shiva là cây gậy đinh ba Pinaka tượng trưng cho sấm chớp và tính năng của vị thần giông bão; một cây kiếm, một cây cung và một cây gậy có treo một đầu lâu. Tất cả những vật đó đã tượng trưng cho trí thức, uy quyền và sự trừng phạt của thần. Thần Shiva có ba thuộc tính quan trọng: Sự thật, Năng lực và Bóng tối. Sự thật và năng lực tạo ra ánh sáng để thực hiện công lý vì công lý đòi hỏi ánh sáng ban ngày. Năng lực cùng với bóng tối gây ra tội ác, những hành động thiếu nhân tính nảy mần trong bóng tối và lớn lên trong những đầu óc mờ ám [2].
Dưới những biểu hiện khác về tiếu tượng học (iconography), thần Shiva được thể hiện ở nhiều hình dạng khác nhau: Thông thường Thần được biết đến qua hình ảnh gần gũi với con người, trong tác phẩm có ký hiệu [3.3] được trưng bày ở bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng là một tượng tròn được đưa về từ tháp Mỹ Sơn C1 (niên đại thế kỷ XIII), thể hiện thần Shiva trong tư thế đứng thẳng, hai tay đưa ra phía trước. Bức tượng có chiều cao gần với kích thước của người thật. Đầu tượng được thể hiện một cách tỉ mỉ với những búi tóc được tết thành nhiều tết và búi cao trên đầu. Khuôn mặt thần được tả một cách đặc biệt bộc lộ những đặc điểm nhân chủng Chăm lấy từ những hình mẫu mà người thợ điêu khắc Chăm tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày.
      Những đặc điểm nhân chủng được nhấn mạnh ở đôi mắt hơi xếch, mở lớn, cánh mũi to và đôi môi dày. Đôi vai ngang và dáng đứng thẳng của tượng toát lên một sức mạnh cường tráng về thể lực. Y phục của tượng là một sarong [3] dài đến đầu gối, có vạt dài buông phía trước xếp thành hai dải chồng lên nhau, được giữ lại bằng một thắt lưng buộc trễ, thấp hơn sarong vài phân, bên phải có một vật như bao kiếm. Tác phẩm đã thể hiện thần Shiva với vẻ mặt uy nghiêm mà hiền từ, vắng hẳn những nét siêu phàm như biểu trưng dây rắn Naga hay những cánh tay phụ được miêu tả dưới dáng một con người trần tục. Thần Shiva trong tác phẩm này đã được thế tục hóa để phù hợp với hành động khất thực khiêm tốn của mình [4]. Chúng ta cũng bắt gặp Thần trong hình tượng có rất nhiều tay, cưỡi trên lưng con bò thần Nandin cầm vũ khí biểu trưng là cây đinh ba lửa, hay một chiếc rìu, khoác trên người một tấm da hổ hoặc da voi, thần Shiva cũng được thể hiện dưới dạng một nhà tu khổ hạnh với bộ râu dài, tay cầm chuỗi tràng hạt, đang trong tư thế ngồi chân trái gác lên chân phải, lòng bàn chân để ngửa (kiểu ngồi này thường được các nhà nhiên cứu gọi là kiểu ngồi Ấn Độ-Yoga) như các tượng ở Mỹ Sơn, Khương Mỹ, Bình Định và nhiều nơi khác… đều là những biểu trưng cho hành động và biểu hiện khác nhau của Shiva.
Theo truyền thuyết thì thần Shiva thích nhảy múa khi vui cũng như khi buồn, một mình hoặc với Devi, vợ của thần, bởi vì Shiva cũng là thần nhịp điệu. Động tác múa vừa tượng trưng cho vinh quang của thần vừa tượng trưng cho sự chuyển động vĩnh cửu của vũ trụ. Do đó, khi nói đến thần Shiva toàn vẹn nhất về hình tượng nhân hình phải nhắc tới hình tượng Natraraja (vua Vũ đạo). Hình tượng này có thể thấy qua số bức phù điêu thể hiện nét mềm mại, uyển chuyển dị thường của thần Shiva trong vũ điệu Tanvada (vũ điệu vận hành vũ trụ) như các phù điêu trên mi cửa đền Ponaga (Nha Trang), đền Poklong-Giarai (Phan Rang).
Shiva là hiện thân của Đấng toàn năng gieo rắc chiến tranh, bão tố và phá hủy, đồng thời mang tới cho trần gian may mắn, hạnh phúc và hoan lạc. Hình tượng thần Shiva còn được chạm khắc trên các phù điêu gắn tường, trên các mi cửa ra vào của tháp. Bức phù điêu Siva tìm thấy ở Phong Lệ, Quảng Nam là một trong những tác phẩm thể hiện thần Shiva với điệu múa Tadava. Tác phẩm có niên đại từ thế kỷ X, được làm bằng đá sa thạch thể hiện thần Shiva đang múa, thần có hai cánh tay chính và mười bốn cánh tay phụ, các cánh tay xếp liên tục, ngón tay trỏ gập lại chạm nhẹ vào ngón tay cái, các ngón tay còn lại duỗi thẳng ra. Các cánh tay cũng xếp liên tục nhau tạo thành một vòng quay tròn chung quanh thần, thân hình uốn cong tạo nên một tư thế mềm mại uyển chuyển của điệu múa. Đầu thần có búi tóc cao, được thắt lại thành ba tầng bằng những dải tóc tết đôi, ở tầng đầu tiên có dưới hiệu trăng lưỡi liềm. Tai đeo hoa tai dài xuống quá cổ. Cổ có đeo vòng trang sức, cánh tay phải và hai cổ chân đeo vòng rắn. Y phục của thần là một chiếc sampot [5] dài đến đầu gối, vạt trước hình bán nguyệt, được trang trí bằng năm hình búp sen để ngược. Chiếc thắt lưng to bản buộc hơi trễ xuống, hai đầu mối thắt lại bên hông, buông mối xuống đến đầu gối. Hai bên dưới là các nhạc công chơi đàn và những vị thần khác đang chiêm bái điệu múa của thần Shiva, đây là hình thức biểu trưng cho quyền năng tuyệt đối của Shiva và là biểu hiện hoàn hảo nhất về thần Shiva.
Ở những bức tượng và phù điêu khác, thần Shiva được miêu tả với điệu múa trong vòng lửa, tay cầm trống tượng trưng cho sự sáng tạo; bàn tay giơ thẳng tượng trưng cho sự bảo tồn; lửa tượng trưng cho sức mạnh huỷ diệt để sáng tạo thế giới mới; cánh tay uốn vòng và chỉ vào cái chân đạp đất là chỗ dựa của tâm hồn mà tâm hồn ấy đang bị hệ lụy về tiền kiếp; vòng lửa mà Shiva đang múa là chính trong đó Shiva đã tập trung tất cả sức mạnh vật chất của tạo hoá, sức mạnh đó là cả một cuộc tuần hoàn vô tận. Shiva đứng múa trong vòng lửa, đầu, tay, chân chấm với vòng lửa hình cánh cung tạo nên một sự chan hoà giữa vật chất và tinh thần. Ngoài ra thần Shiva còn xuất hiện trong các tác phẩm điêu khắc cùng với bò Nandin, con vật cưỡi trung thành của thần. Phù điêu Shiva tìm thấy ở Khương Mỹ, Quảng Nam (niên đại thế kỷ X) là một bức phù điêu hình lá đề miêu tả trong tư thế múa trên lưng bò Nandin. Thần Shiva được thể hiện với hai mươi tám cánh tay, hai tay chính nâng cây đàn. Các tay còn lại xòe ra chung quanh. Thần mặc một chiếc sampot ngắn có trang trí những đường diềm. Đầu đội mũ cao nhiều tầng nhưng đã vỡ gần như hoàn toàn. Bò Nandin được thể hiện trong tư thế đứng, đầu có sừng nhọn, tai vểnh, cổ đeo vòng lục lạc, lưng có yên, đuôi vắt ngược về phía trước.
   Qua những tác phẩm điêu khắc về thần Shiva trong hình tượng nhân hình chúng ta phần nào hình dung được thần Shiva và ảnh hưởng của thần trong đời sống của người dân Champa, đồng thời cũng thấy được sự ảnh hưởng sâu sắc của nghệ thuật Ấn Độ trong văn hóa Chăm cổ, vì thế, xuyên suốt quá trình phát triển của nền nghệ thuật điêu khắc đá chúng ta dễ dàng bắt gặp những dấu ấn văn hóa Ấn Độ trong từng tác phẩm. Tuy nhiên, người Chăm cũng đã học hỏi và giao lưu văn hoá không những ở Ấn Độ mà còn của các quốc gia, các nền văn hoá lân cận như Đại Việt, Trung Quốc, Khmer… kết hợp với những yếu tố đó tạo thành những nét văn hóa, những phong cách điêu khắc của riêng mình.
Hầu hết hình tượng nhân hình của thần Shiva trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa đều được tạo tác từ nguồn sa thạch có kết cấu bền chắc nên việc thể hiện các đường nét hoa văn tinh xảo như kiểu tượng Khmer và Java là một điều khó khăn. Các pho tượng Shiva Champa phần lớn có dáng gồ ghề, tập trung thể hiện ở mặt trước, sau lưng còn nguyên cả khối đá với những nhát đục chưa hoàn thành. Đề tài về Shiva thường thể hiện độc lập, đây cũng là một đặc trưng bản địa hoá trong văn hoá Chăm.
Ở mỗi vùng đất, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, đề tài điêu khắc  về thần Shiva đều mang những phong cách riêng, tuy nhiên, các pho tượng Shiva có một đặc điểm chung là đầu đội kiểu mũ Kirita-Mukuta hoặc Jata-Mukuta đôi khi cách điệu, linh thú của Shiva chỉ được thể hiện ở dưới phần bệ tượng, hình tượng Shiva cưỡi trên mình bò thần Nandin như bức phù điêu ở chùa Ưu Điềm là một hình tượng tương đối hiếm trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa.
Hình tượng nhân hình của thần Shiva đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật điêu khắc Champa. Những tác phẩm về Shiva, đại diện cho nền văn minh cổ nổi tiếng ở Đông Nam Á là nguồn tài liệu quí không những phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu văn hoá cổ nói chung, nghệ thuật và kỹ thuật tạc tượng nói riêng mà còn phục vụ cho việc tìm hiểu lịch sử văn hoá khu vực Đông Nam Á, nhằm tái hiện lại một khung cảnh chung trong mối quan hệ Đông Nam Á thời cổ đại. Thực tế, hiện nay có rất nhiều cổ vật Champa, bằng nhiều con đường khác nhau đã không còn (cả nhà sưu tầm nước ngoài); sự phát triển của đất nước, sự bổ nổ của các phương tiện truyền thông, thì các giá trị văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là các tác phẩm tượng, phù điêu của điêu khắc đá Champa đang gặp nhiều nguy cơ thách thức. Đảng và Nhà nước ta đã có chính sách bảo tồn và phát huy, nhưng xét toàn cục, thì chúng ta và cả cộng đồng người Chăm hiện nay phải cùng nhau góp sức. Có như thế thì những giá trị văn hóa, nghệ thuật đó mới tiếp tục trường tồn với thời gian. 
                                                                                                                                                                                                          Trần Thu Hương- Khoa Xây dựng Đảng
 
Chú thích
 [1] Vương quốc cổ Chămpa đã từng tồn tại hơn 10 thế kỷ (từ thế kỷ II đến thế kỷ XV) trên dải đất miền Trung Việt Nam,từ bắc đèo Ngang (Quảng Bình) đến mũi Kê Gà (Bình Thuận).
 [2] Nguyễn Thừa Hỷ (1986), Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ, NXB Văn hóa, Hà Nội, trang 116,117.
[3] Sarong: là loại y phục quấn quanh thân mình từ thắt lưng xuống đến đầu gối hoặc cổ chân.
[4]. Huỳnh Thị Được (2005), Điêu khắc Chăm và thần thoại Ấn Độ, NXB Đà Nẵng, trang 44.

        [5] Sampot: là loại y phục quấn từ thắt lưng xuống đến dưới hoặc trên đầu gối có khi được buộc từ trước ra sau thành hai ống, thường thấy ở các tượng thuộc nghệ thuật các nước ảnh hưởng Ấn Độ.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday430
mod_vvisit_counterYesterday1439
mod_vvisit_counterThis week8318
mod_vvisit_counterLast week7793
mod_vvisit_counterThis month24873
mod_vvisit_counterLast month32130
mod_vvisit_counterAll354186
Online (20 minutes ago): 32
Your IP: 34.231.247.139
,
Now is: 2019-09-21 08:25