Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin

Bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi nhiều thế kỷ, đã được các nhà tư tưởng triết học, xã hội học, chính trị học… nghiên cứu trong nhiều thời đại trước đây cho tới nay. Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S.Phurie đã nhận định: Trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội. Luận điểm này tiếp tục được khẳng định trong học thuyết Mác ngay từ khi nó ra đời và được phát triển ở trình độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo. Những luận điểm trên đã cổ vũ cho nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng giữa nam và nữ, trở thành một trong những mục tiêu đấu tranh của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới trước đây và cho tới ngày nay.

               Khái niệm “giới” “bình đẳng giới” như hiện nay chúng ta đang sử dụng thì các nhà sáng lập ra học thuyết Mác - Lênin chưa sử dụng nhưng tinh thần về giới và bình đẳng giới đã được thể hiện rõ và tập trung trong các quan điểm của các tác giả về: “phụ nữ” và “bình đẳng nam nữ”, trong đó các ông đã tập trung làm rõ những nội dung cơ bản:

            Một là, về địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các chế độ cũ nói chung, chế độ tư bản chủ nghĩa nói riêng và nguồn gốc dẫn tới sự bất bình đẳng giữa  phụ nữ và nam giới.

            Về địa vị của người phụ nữ và quan hệ giới trong gia đình, xã hôi:

            C.Mác, Ph.Ăngghen đã luận giải sự thay đổi cơ bản địa vị của người phụ nữ từ xã hội cộng sản nguyên thủy chuyển sang các xã hội có giai cấp đối kháng. Trong xã hội nguyên thủy người phụ nữ có vai trò, vị trí rất lớn trong gia đình và ngoài xã hội do họ là người đảm nhiệm chính trong việc tái sản xuất và chăm sóc các thành viên trong gia đình; vai trò to lớn của người phụ nữ còn được khẳng định bởi Họ của những đứa con chỉ được xác lập theo họ mẹ. Nhưng khi chuyển sang các xã hội có chế độ tư hữu với sự đối kháng về giai cấp, vị trí, vai trò của người phụ nữ đã có bước thay đổi cơ bản, trở nên rất thấp kém. Chế độ mẫu quyền dần bị phụ quyền thay thế. Ph.Ăngghen viết: ‘Chế độ mẫu quyền bị lật đổ, đó là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của phụ nữ. Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành dân đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần”<C.Mác và Ăngghen,toàn tập, NxbCTQG,H.,tập 21,tr.93>.

            Vậy là “sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử là trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể, và sự áp bức giai cấp đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà”<Sđd, tập 21. tr104>. Gia đình với sự bất bình đẳng này tồn tại qua các chế độ nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa.

            Nghiên cứu vai trò của phụ nữ và mối quan hệ giới trong xã hội tư bản, các nhà tư tưởng mác xít nhận xét: Trong thời kỳ đầu của xã hội tư bản chủ nghĩa tồn tại 2 kiểu gia đình: ở các gia đình tư sản, người chồng nắm giữ vị trí thống trị về kinh tế và do đó nắm giữ vị thế thống trị đối với người vợ. Sự “áp bức đàn bà về mặt kinh tế”<Sđd, tập 21, tr 115> là phổ biến. Ở các gia đình vô sản, xét dưới góc độ kinh tế, quan hệ vợ chồng trở nên bình đẳng hơn so với gia đình tư sản, vì hôn nhân không còn bị chi phối bởi những tính toán kinh tế vụ lợi, hơn nữa đại công nghiệp đã đưa người phụ nữ ra khỏi nhà, kéo họ vào thị trường lao động, vào công xưởng và trở thành một trong những chủ thể chính kiếm tiền nuôi dưỡng gia đình. Theo V.I.Lênin, đại công nghiệp báo hiệu một hình thức gia đình mới, quan hệ mới: “Khi giao cho phụ nữ, thành niên và cho trẻ con nam và nữ một vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất có tổ chức và có tính xã hội, ngoài phạm vi gia đình, như thế là đại công nghiệp cũng tạo ra cơ sở kinh tế cho một hình thức gia đình cao hơn và hình thức quan hệ nam nữ cao hơn”<V.I.Lênin, toàn tập, Nxb TB M. 1980. tập 26.trr 87-88>.

            Tuy nhiên, điều đó, theo các nhà mác xít, không có nghĩa là trong gia đình vô sản, người phụ nữ, người vợ hoàn toàn được bình đẳng với người chồng vì việc sử dụng lao động nữ trong nền sản xuất xã hội tư bản chủ nghĩa lại dẫn đến sự mâu thuẫn và sự sung đột khi người phụ nữ thực hiện chức năng gia đình và chức năng xã hội, làm trầm trọng thêm tình trạng “một cổ hai tròng” đối với phụ nữ - vừa bị nô dịch trong gia đình, vừa bị áp bức ngoài xã hội. các giới chủ tư sản sử dụng lao động nữ không phải vì mục đích giải phóng phụ nữ, mà trước hết vì lao động của đàm bà và trẻ em – là loại lao động rẻ hơn, “dễ sai bảo” hơn lao động nam giới, là loại lao động “năng suất” hơn lao động nam, nhất là lao động nữ đã có gia đình vì những người phụ nữ này rất chăn chỉ, dễ bảo, họ buộc phải làm việc cật lực để kiếm được những tư liệu sinh hoạt cần thiết.

            V.I.Lênin đã bằng những cứ liệu của thời đại mình chỉ ra cảnh ngộ cơ cực, bị áp bức, phải chịu nhiều bất công của phụ nữ trong các gia đình tiểu nông, thị dân, thủ công, nhân viên công chức nhỏ. V.I. Lênin viết: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói cho đúng hơn là bị đầy đọa) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho cả gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiện” tất cả mọi thứ - chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân” <V.I.Lênin: toàn tập.Nxb.M.1980.tập 23, tr173>.Việc bóc lột sức lao động của phụ nữ trong nền sản xuất nhỏ kiểu tư bản chủ nghĩa đã đạt tới một trình độ cao và quy mô sản xuất càng nhỏ thì thành phần sức lao động càng tồi; tỷ lệ lao động nữ càng lớn tức là sự bóc lột lao động nữ càng nhiều.

            Theo V.I.Lênin, sự bất công đối với phụ nữ công nhân, biểu hiện rất rõ trong tiền lương: “…họ cùng làm ở công xưởng 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10-1,50 mác (nam giới thì được 2,50-2,75 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì học được 1,7-2,0 mác <V.I.Lênin:toàn tập.NxbTB.M.1975.tập 5.tr198> – sự bất bình đẳng đối với phụ nữ là sự bất bình đẳng “kép”, ngoài xã hội, phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luật không cho họ có quyền bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình thì họ là “nô lệ gia đình”, bị nghẹt thở dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất, khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất <V.I.Lênin:toàn tập.NxbTB.M.1977.tập 42.tr163-164>.

            Về nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong gia đình, xã hội:

            Các nhà mác xít đã chỉ rõ nguồn gốc thấp kém của phụ nữ so với nam giới ở trong gia đình và ngoài xã hội là do có sự bất bình đẳng về kinh tế đã dẫn tới sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà và bất bình đẳng giới nảy sinh. PH.Ăngghen viết: “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuy nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế”<Sđd, tập 21, tr.115>.

            Cùng với nguyên nhân kinh tế, các nhà mác xít cũng chỉ rõ, truyền thống văn hóa và xã hội (phong tục, tập quán lạc hậu) được cổ vũ mạnh mẽ của tôn giáo và sự bảo vệ vững chắc của pháp luật tư sản cũng là nguồn gốc rất cơ bản dẫn tới bất bình đẳng nam nữ, làm tăng thêm gánh nặng áp bức đối với phu nữ. VI.Lênin viết: “Cho đến nay… hôn nhân có tính chất tôn giáo vẫn thịnh hành, Phụ nữ phải chịu như vậy là do ảnh hưởng của cha cố…”<V.I.Lênin: toàn tập NXBTB.M 1977.tập 37.tr221>. các ông cũng nhấn mạnh, chính bản thân người phụ nữ với sự cam chịu, nhẫn nhục, kém hiểu biết càng làm cho sự bất bình đẳng giới trở nên trầm kha trong xã hội tư bản.

            Hai là, về điều kiện giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ (bình đẳng giới).

            Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con đường và những điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên thực tế - đó là con đường cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ nguồn gốc kinh tế mà từ đó đẻ ra mọi sự bất bình đẳng trong xã hội, bao gồm cả bất bình đẳng giữa nam và nữ, trong đó chế độ sở hữu tư nhân phải được thay thế bằng sử hữu xã hội; phải đưa phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào công việc xã hội. Ph.Ăngghen viết: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”< C.Mác và Ăngghen, tuyển tập, tập VI,tr689>; “phải cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa” <Sđd, tập 21, tr116>. Đồng thời cần phải tổ chức lại cách phân công lao động xã hội và gia đình theo hướng giảm nhẹ ghánh năng gia đình cho phụ nữ bằng cách xã hội hóa một phần công việc gia đình. Luật pháp hóa mục tiêu bình đẳng nam nữ, bình đẳng giữa vợ và chồng; giữa hai giới. Khẳng định điều này, Ăng ghen viết: “…Đặc tính của sự thống trị của người chồng đối với người vợ trong gia đình hiện đại và sự tất yếu phải xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên, cũng như phương thức xác lập sự bình đẳng ấy, chỉ bộc lộ ra hoàn toàn rõ ràng một khi mà cả vợ chồng đều bình đẳng trước pháp luật”<Sđd, tập21, tr 118>.

            Cũng như C.Mác và Ăng ghen, V.I.Lênin xem xét tình trạng phụ nữ bị áp bức, bóc lột, tình trạng bất bình đẳng giới từ những nguyên nhân kinh tế,, xã hội, văn hóa…sâu xa của chúng. Cải tạo toàn xã hội nhằm giải phóng tất cả những người lao động bị áp bức, bóc lột cũng là con đường giải phóng phụ nữ.

            Trong thời kỳ đầu hoạt động của mình, V.I.Lênin thường đặt vấn đề đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ ở cấp độ Cương lĩnh của Đảng. Như: “Phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt” <V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M.1974, tập. 4, tr. 283>, “ Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1975.tập 6, tr 263>.Tăng số lượng nhân viên thanh tra của công xưởng, bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành mà lao động nữ chiếm số đông” < Sđd tr.264>. “ Thành lập chế độ cộng hòa, tổ chức dân cảnh, thực hiện chế độ nhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1980.tập 27, tr 78>. Hủy bỏ tất cả sự hạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới. “Cấn dùng phụ nữ lao động trong các ngành mà lao động ấy có hại cho cơ thể phụ nữ; cấm dùng phụ nữ lao động ban đêm; phụ nữ được nghỉ tám tuần lễ trước khi sinh đẻ và tám tuần lễ sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương như thường lệ, được miễn không phải trả tiền chữa bệnh và tiêm thuốc”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1981.tập 32, tr 119>.

            Đặc biệt V.I.Lênin không nhìn phụ nữ như một lớp người thụ động chỉ biết trông chờ sự ban phát của xã hội, chỉ biết hưởng thụ thành quả của người khác giới… Ngược lại, V.I.Lênin đánh giá cao tinh thần đấu tranh kiên quyết của phụ nữ, sự hy sinh to lớn của họ cho tiến bộ xã hội và cho chính mình. V.I.Lênin  luôn biểu dương một trong những điểm hình của tinh thần ấy là phụ nữ trong Công xã Pari (1871) <V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1981.tập 30, tr 177-178>.

            V.I.Lênin  rất quan tâm đến địa vị, vai trò của người phụ nữ. Ông khẳng định một quan điểm chung rằng “ Địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất cho trình độ văn minh” <V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1977.tập 40, tr 221>. V.I.Lênin  cho rằng: để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội, nhưng trước hết và quyết định nhất là sự nỗ lực của chính bản thân phụ nữ. “Việc giải phóng phụ nữ lao động….phải là việc của bản thân phụ nữ lao động” <Sđ d tr232>. Và nội dung đầu tiên phải thực hiện là “Muốn để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thật sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ mới có địa vị bình đẳng với nam giới”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1977.tập 42, tr 230>.

            Từ đó trong lĩnh vực sản xuất phải tạo những điều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt công việc được xã hội phân công, đồng thời cũng tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt việc nuôi con, thực hiện chức năng làm mẹ. Do đó V.I.Lênin đã yêu cầu, ở “tất cả các nhà máy, công xưởng và các xí nghiệp khác có phụ nữ làm việc, lập các nhà giữ trẻ cho những trẻ em còn bú và trẻ em nhỏ tuổi và các phòng cho con bú; bất cứ nữ công nhân nào cho con bú cũng đều được để ra ít nhất là nửa giờ vào những khoảng cách nhau không quá ba giờ, được nhận một số tiền phụ cấp và chỉ làm việc sáu giờ một ngày”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1981.tập 32, tr 199>.

            Trong lĩnh vực chính trị, V.I.Lênin  quan tâm trước hết đến việc làm cho phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa vào công cuộc bầu cử “vì đó là cơ hội tốt nhất để họ lựa chọn những người đại diện cho quyền lợi của họ, nhất là những người đại diện là phụ nữ”. Trong các lĩnh vực công tác xã hội, nhất là những lĩnh vực trước đây phụ nữ ít được tham gia bởi những thành kiến lạc hậu của xã hội cản trở như lĩnh vực tòa án, thẩm phán. “Trong khi bầu vào toà án những đại biểu công nông…Đảng cộng sản không phân biệt đối xử với phụ nữ, coi nam nữ hoàn toàn có quyền như nhau, kể cả công việc bầu cử các thẩm phán, cũng như trong công việc thừa hành những nhiệm vụ của thẩm phán”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1977.tập 38, tr 140>.

            Trong lĩnh vực công tác Đảng, công tác Nhà nước, cũng cần có sự tham gia của phụ nữ, hơn nữa “Trong công tác đó, phụ nữ phải giữ một vai trò chủ yếu và chắc chắn là phụ nữ giữ vai trò ấy”<V.I.Lênin:Toàn tập.NXBTB.M 1977.tập 42, tr 273>.

            Theo V.I.Lênin  giành quyền bình đẳng cho phụ nữ không chỉ ghi nhận trong văn bản mà còn phải thực hiện. Do đó “chúng ta phải làm sao cho nữ công nhân giành được bình đẳng với nam công nhân không những về mặt pháp luật, mà cả trong thực tế đời sống nữa”.

            Biện pháp hữu hiệu và mau chóng xóa bỏ khoảng cách giữa “bình đẳng về mặt pháp luật” và “bình đẳng trong thực tế đời sống” cũng đã được V.I.Lênin  chỉ ra và quyết tâm thực hiện khi ông còn sống và còn cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Xô viết. Biện pháp đó là: “…làm cho nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào việc quản lý Nhà nước”. Với việc thực hiện biện pháp này VI.Lênin  hoàn toàn tin tưởng rằng: “…Phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp được nam giới”< Sđd tr182-183>.

            Toàn bộ hệ thống những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về phụ nữ, giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ được xây dựng trên cơ sở của triết học mác xít. Đây là phương pháp tiếp cận khoa học và cũng là cơ sở lý luận để phát triển khoa học về giới, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong xã hội hiện nay./.

 

                                                                                               Quách Thị Minh Thúy


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday44
mod_vvisit_counterYesterday348
mod_vvisit_counterThis week568
mod_vvisit_counterLast week1791
mod_vvisit_counterThis month5162
mod_vvisit_counterLast month4852
mod_vvisit_counterAll187941
Online (20 minutes ago): 16
Your IP: 54.225.26.44
,
Now is: 2018-10-23 06:29