Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Kon Tum thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum

Ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 -1973)

Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quyết định và chi phối lẫn nhau. Quan hệ giữa giành thắng lợi trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao. Mối quan hệ này thể hiện đậm nét trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam.

          Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng không cân sức nhau trên chiến trường. Trên mặt trận ngoại giao, đó là cuộc đối chọi giữa tư tưởng, trí tuệ, nghệ thuật của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh với chính sách ngoại giao trên thế mạnh của nền ngoại giao nhà nghề của cường quốc mạnh nhất thế giới. Trong cuộc họp tại Nhà Trắng ngày đầu chiến tranh, Lyndon  Johnson nói: “cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải. Tay phải ta nắm lực quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân lên phía trước, thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên phía trước…”[[1]]. Chính vì vậy, suốt cuộc chiến tranh, Mỹ đều dùng ngoại giao và đàm phán trên thế mạnh để che chắn cho quân Mỹ trên chiến trường. Tính chất thời đại và đặc điểm của cuộc chiến tranh đã quyết định vai trò và nhiệm vụ của ngoại giao.  

 

Từ rất sớm, ngoại giao Việt Nam đã giương cao ngọn cờ hòa bình, thi hành Hiệp định Giơnevơ, Mặt trận giải phóng dân tộc ra đời, có ngoại giao hòa bình, trung lập. Đi vào cuộc chiến tranh lớn, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đường lối đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Nghị quyết Trung ương 13 (tháng 1 năm 1967), Đảng lao động Việt Nam đã đưa ngoại giao lên thành một mặt trận với nguyên tắc: “chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường” [[2]]. Mặt trận ngoại giao có ý nghĩa chiến lược phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, tạo cục diện đan xen giữa đánh và đàm, tạo thế và lực cho cuộc kháng chiến. Mỗi giai đoạn cách mạng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có một quyết sách ngoại giao riêng. Trong đó giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1973 quyết sách ngoại giao của Việt nam là cuộc đàm phán quyết liệt tại Paris.

1.      Mở hội nghị 4 bên- Củng cố cục diện đánh đàm

Hội nghị 4 bên khai mạc lúc 10 giờ 30 ngày 25/01/1969 tại Paris. Chúng ta sử dụng diễn đàn này để phê phán và lên án Mỹ kéo dài chiến tranh, gây tội ác. Sau hơn ba tháng họp trầm trầm, tại phiên ngày 8/5/1969, Trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Trần Bửu Kiếm đưa ra đề nghị hòa bình có tên là “Những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam”, gọi tắt là Đề nghị hòa bình 10 điểm, xoáy vào hai vấn đề chính là Mỹ rút hết quân và lập chính phủ liên hiệp. Đề nghị 10 điểm là một đòn tấn công lớn trong đàm phán, đặt cơ sở cho nội dung đàm phán, củng cố cục diện vừa đánh vừa đàm. Thời điểm đưa ra đề nghị 10 điểm là lúc quân dân miền Nam đang tích cực chuẩn bị tổng tiến công đợt 5, sẽ mở màn ngày 11/5/1969. Thế ngoại giao vững hỗ trợ mạnh mẽ cho chiến trường đang khó khăn.

2.      Kéo Mỹ xuống thang-ép Mỹ rút dần quân

Yêu cầu cao nhất của chiến trường lúc này là tạo ra sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta. Mỹ đang đi vào “Việt Nam hóa” rút dần quân. Nhiệm vụ chủ yếu của ngoại giao và đàm phán là thúc đẩy Mỹ xuống thang, đơn phương rút quân Mỹ mà không chuyển được sức ép về phía ta. Tháng 6/1969, Nixon công bố đợt rút đầu tiên gồm 25000 quân Mỹ. Ngoại giao hai miền, hai đoàn đàm phán của ta tại Paris lên tiếng mạnh mẽ, liên tục lên án Mỹ “rút quân nhỏ giọt”, đòi Mỹ rút nhanh, rút hết. Chúng ta vạch rõ “Việt Nam hóa” là kéo dài chiến tranh. Ngày 20/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhấn mạnh “nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút sạch…”[3]

Để tăng sức ép, hỗ trợ chiến trường, xoáy vào chỗ yếu của Mỹ, ngày 14/9/1970, đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa đề nghị hòa bình mới gọi là “Tám điểm nói rõ thêm”, chúng ta vẫn giữ đề nghị cơ bản là 10 điểm ngày 8/5/1969, nên lần này chỉ nói rõ thêm. Đề nghị này có thêm hai điểm mới đó là Hoa Kỳ phải định thời gian rút hết quân trước 30/6/1971 và lập ở Sài Gòn một chính quyền không có sự tham gia của  các nhân vật: Thiệu, Kỳ, Khiêm. Việt Nam đưa ra thời hạn để ép Mỹ, gây sự chú ý trong dư luận và nhân dân Mỹ. Ở Sài Gòn lúc này, Thiệu, Kỳ, Khiêm, cả ba đầu sỏ chính quyền Sài Gòn này đều bị nhân dân các đô thị miền Nam oán ghét; phong trào đòi dân sinh, dân chủ đang phát triển. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nêu lên đòi hỏi này nhằm khoét sâu mâu thuẫn nội bộ Ngụy, hỗ trợ trong phong trào đô thị miền Nam.

Chiến trường giằng co, đàm phán đang trầm lặng, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa đề nghị Tám điểm là củng cố, hâm nóng không khí đàm phán, góp phần phá “Việt Nam hóa”, hỗ trợ phong trào đô thị.

3.      Đẩy mạnh sự ủng hộ của quốc tế

Chiến tranh đang kéo dài nên việc tranh thủ sự ủng hộ của những nước trong phe xã hội chủ nghĩa, những quốc gia yêu chuộng hòa bình càng có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là hai nước Liên Xô và Trung Quốc. Ta tăng cường tiếp xúc, thông báo tình hình, giữ thái độ chân thành, tin cậy, đồng thời tiếp tục tranh thủ viện trợ của quốc tế và làm thất bại chính sách của Mỹ chia rẽ ta với Trung Quốc và Liên Xô.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mỹ giật dây Lol Nol đảo chính Sihanouk và dựng lên chính quyền tay sai của chúng để cắt đứt con đường tiếp viện qua Campuchia của ta và mở rộng chiến tranh sang Campuchia để truy quét các cơ quan trung ương cách mạng miền Nam. Đồng thời, Mỹ mở rộng chiến tranh sang Lào để cô lập cách mạng miền Nam và cắt đứt con đường tiếp viện chiến lược – đường trường sơn của ta.

Trước tình hình đó, ngày 24, 25/4/1970, ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia đã họp hội nghị cấp cao để biểu thị quyết tâm đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, thắt chặt và thúc đẩy khối đoàn kết Đông Dương lên tầm cao mới, rất có lợi cho cách mạng ba nước. Thông qua đó, cách mạng nước ta dựa vào thế mạnh mới, thế mạnh của toàn chiến trường Đông Dương, để giữ vững thế trận đàm phán.

Từ 30/4 đến 30/6/1970, quân giải phóng phối hợp với lực lượng kháng chiến bạn giáng trả quân Mỹ và Sài Gòn, giải phóng Đông Campuchia giúp Hoàng thân Sihanouk giữ thế hợp pháp, lập chính phủ kháng chiến. Tại Lào, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng kháng chiến Lào đánh mạnh, mở rộng vùng giải phóng (Attapeu, Saravan, Nam Lào), tạo thế liên hoàn ba chiến trường.

Trong thời gian này, chúng ta tiếp tục nhận được sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân thế giới, đã tác động đến thái độ của nhiều nước. Một số nước vốn là đồng minh của Mỹ nay bắt đầu biểu thị thái độ không đồng tình với hành động tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Chúng ta cũng đẩy mạnh tiếp xúc với đại diện các phong trào và tổ chức nhân dân Mỹ nhằm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ, tạo thuận lợi cho gia đình vào thăm, đồng thời công bố toàn bộ danh sách tù binh. Những việc làm đó tác động mạnh vào nội bộ nước Mỹ và hỗ trợ hiệu quả cho phong trào chống chiến tranh ở Mỹ. Dư luận thế giới lên án cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, thất bại trong triển khai kế hoạch làm cho Mỹ và chính quyền tay sai gặp nhiều khó khăn trên thế giới và ngay cả trong nước Mỹ.

4.      Đàm phán kết thúc chiến tranh-ký Hiệp định Paris về Việt Nam

Từ mùa Thu năm 1969 đến đầu năm 1972 diễn ra nhiều cuộc đàm phán chủ yếu trên diễn đàn. Mỗi năm có 2 đến 3 cuộc gặp riêng với mục đích là thăm dò nhau. Sau thắng lợi của chiến dịch tổng tiến công Xuân hè năm 1972 làm phá sản “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ và thực sự bóc trần những thất bại mà chính quyền Mỹ đang cố công che đậy, làm bùng lên một làn sống phẫn nộ trong lòng nước Mỹ về những hứa hẹn thắng lợi giả tạo của “Việt Nam hóa chiến tranh” mà tổng thống R. Nixon vẫn luôn tô vẽ để trấn an người Mỹ.  Bộ Chính trị quyết định đưa đàm phán đi vào thực thực chất để kết thúc chiến tranh trong năm 1972, và đây cũng là năm bầu cử ở Mỹ. Mục tiêu của ta là Mỹ rút hết quân, lập một hình thức chính quyền liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử đồng thời đòi bồi thường dưới danh nghĩa đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh. Những cuộc thăm dò và đàm phán diễn ra gay gắt (tháng 7, 8, 9). Để gỡ bế tắc, đẩy nhanh đàm phán, ngày 8/10/1972, Việt Nam đưa ra đề nghị hòa bình dưới dạng một Dự thảo hiệp đinh; nội dung chủ yếu của Dự thảo là tập trung giải quyết các vấn đề quân sự gồm ngừng bắn, rút quân Mỹ và thả hết tù binhCác vấn đề chính trị đều được gác lại để sau này hai bên miền Nam (Chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam) giải quyết. Thực chất là giữ nguyên hiện trạng miền Nam sau khi Mỹ rút. Sách lược này làm cho lập trường hai bên gần nhau, nên chỉ trong hơn một tuần, hai bên đạt được thỏa thuận hiệp định ngày 31/10/1972. Tuy nhiên, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tìm cách cản trở, bác bỏ dự thảo Hiệp định. R.Nixon phải đề nghị với Việt Nam đàm phán bổ sung. Trước khi nhận đàm phán lại, Hà Nội công bố kết quả đàm phán và hiệp định đã hoàn thành, củng cố thành quả, tạo thế mạnh trong lần đàm phán tới, đẩy Mỹ và chính quyền Sài Gòn vào thế đối phó lúng túng. Cuộc đàm phán lại kéo dài từ ngày 8/11 đến ngày 13/12. Giữa lúc đàm phán bế tắc, ngày 18/12/1972, Tổng thống R.Nixon ra lệnh dùng máy bay B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Với thắng lợi của cuộc “Tập kích Mười hai ngày đêm “Điện Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội đã làm cho Mỹ và Ngụy thất bại nặng nề. Ngày 29/12/1972 Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta. Ngày 23/1/1972 Hiệp định ký tắt; ngày 27/1/1973 Hiệp đinh được ký chính thức. Bốn bên ký 4 Nghị định thư đảm bảo thi hành hiệp định.

Cùng với thắng lợi quân sự, thắng lợi của Hiệp định Paris có ý nghĩa quyết định “đánh cho Mỹ cút”, buộc Mỹ phải tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, mở ra thế trận và so sánh lực lượng có lợi để đánh bại chính quyền tay sai Mỹ.

Hiệp định Paris  hội tụ các điều kiện cả về chiến lược, quân sự, chính trị lẫn ngoại giao cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài nhất, gian khổ nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc xâm lược trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.

 

 Trần Thị Thu Hương

  Khoa Xây dựng Đảng

 

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn khắc Huỳnh, “Ngoại giao Việt Nam- phương sách và nghệ thuật đàm phán”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 251.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2003, tập 28, trang 86.



 

 

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, trang 478

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH

Đăng nhập

Thống Kê Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday49
mod_vvisit_counterYesterday348
mod_vvisit_counterThis week573
mod_vvisit_counterLast week1791
mod_vvisit_counterThis month5167
mod_vvisit_counterLast month4852
mod_vvisit_counterAll187946
Online (20 minutes ago): 14
Your IP: 54.225.26.44
,
Now is: 2018-10-23 06:53